Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home

Hiểu biết về 4 chữ TU HÀNH TƯƠNG TỨC

Hiểu biết về bốn chữ

TU HÀNH TƯƠNG TỨC.

THEO ĐẠO PHẬT.


TU HÀNH là hằng ngày tạo nghiệp lành (=thường xuyên bằng hành động hướng thiện) khởi từ năm giác quan. Phật giáo gọi 5 giác quan là ngũ căn. -Tu hành đúng theo đạo Phật, có hiệu lực giảm tối đa, rồi dứt hẳn nghiệp dữ do 5 giác quan ấy. -Các hình thức, như lễ bái, nghe giáo lý, thuyết trình, thảo luận Phật pháp, học cách tụng kinh trì chú, và qui y Tam Bảo, dù đã xảy ra hay «bắt đầu» từ lâu, nhưng nếu chưa thể hiện bằng giới hạnh thuần thục thì ấy chỉ là khởi đầu, không gọi là tu hành, cải thiện đúng nghĩa !

TƯƠNG TỨC là với quan niệm rằng, mọi sinh hoạt trong sự sống trên thế gian, đều trực tiếp hay gián tiếp (xa hay gần) có hậu quả liên hệ lẫn nhau, giữa muôn loài. Không một ai có thể gọi là «hiện diện biệt lập» thực sự ! Vì chẳng có môi trường (hay cảnh giới) nào chỉ có một sinh linh duy nhất, mà tất cả đều có từ hai đơn vị sinh linh trở lên. -Nghĩa là mọi sinh linh đều phải có song thân, tổ tiên, đồng loại lẫn khác loại cộng nghiệp với mình. (-Tiền lệ !).

Bỡi đã tạo TIỀN NGHIỆP nhiều đời, nên chúng ta mỗi người có THÂN. Và trong thân nầy đã sẵn có 5 CĂN DUYÊN là 5 cơ quan, hay «5 phương tiện tiếp thu», để tạo nghiệp (tốt lẫn xấu) trong kiếp hiện tại.

Người ta thường nói đến 2 chữ «TU TÂM», nhưng rõ hơn phải nói là «TU TÂM QUA NĂM GIÁC QUAN», hay tu hành qua toàn bộ các cảm giác. Pháp thiền niệm THỌ ám chỉ cách tu nầy, có liên quan chặc chẽ với niệm THÂN*. -Vì xuyên qua thọ cảm 5 giác quan và giác quan thứ 6, mà tâm có thể bị vô số ngoại cảnh làm cho ô nhiễm, hay ngược lại làm cho yên tĩnh, lành mạnh, vui vẻ.

Nói cách khác, nếu hỗn hợp năm giác quan và giác quan thứ sáu (Ý căn), bị các cảm giác «xấu tốt» làm cho ô nhiễm thì tâm thức cũng bị ô nhiễm. Khi TÂM THỨC BỊ Ô NHIỄM, thì hiện thân của sự sống trong đời hiện tại, tự động rơi vào «vùng đen đục», mất ánh sáng, lạc hướng, hoang mang….luân lưu trong dòng nước xoáy, sinh tử xoay vần….sa đọa, chịu đựng liên tục khổ vui xen kẽ. -Vô minh gia tăng, tràn ngập !
Năm căn theo Phật học, là 1/nhãn căn (thị giác : thần kinh mắt), 2/nhĩ căn (thính giác : thần kinh tai), 3/tỷ căn (khứu giác : thần kinh mũi), 4/thiệt căn (vị giác : thần kinh lưỡi), và 5/thân căn (xúc giác : thần kinh da). -Còn ý căn chúng ta có thể tạm xem là trung khu thần kinh, căn thứ 6. (Nơi ghi nhận, tồn trử toàn bộ cảm giác, kinh nghiệm).

Tất cả «sáu căn» (hay 6 giác quan) nầy vốn luôn luôn tương tác. Chúng ta có thể ví «5 căn là 5 cái ao nước hứng chịu bụi trần và nhận các màu sắc cuộc đời», còn ý căn là «động tử tắm gội trong 5 cái ao đó». -Nếu nước của 5 ao tù nầy được thanh lọc sạch sẽ, thì «cái thấy» của động tử tắm gội trong đó sẽ ít hay không bị ô nhiễm, không tiếp tục biến dạng, «trở thành xấu» hay «trở thành tốt», hoặc trở thành hỗn hợp nửa xấu nửa tốt, tốt xấu trộn lẫn hoàn toàn (đa số), một cách liên tục.

THANH LỌC ở đây ám chỉ hai bộ phận văn hóa (tôn giáo) và giáo dục (học đường) của một quốc gia cần phải trong sáng, khai trí, khoa học, để có hiệu lực tiến bộ nơi mỗi cá nhân, trẻ cũng như già trong một cộng đồng, lớn hay nhỏ.
-Văn hóa giáo dục phải làm thế nào để cho MẮT (hay nhãn căn) của người dân (trẻ cũng như già) không bị những hình ảnh suy đồi, dâm tục, làm cho nhơ đục trí khôn, phản chiếu sâu sắc thói xấu vào ý căn (TÂM).
-Văn hóa giáo dục phải làm thế nào để cho TAI (hay nhĩ căn) của người dân (trẻ cũng như già) không bị những âm thanh sa đọa, quyến rủ, làm cho nhơ dục trí khôn, phản chiếu thói xấu vào ý căn (Tâm thức).
-Văn hóa giáo dục phải làm thế nào để cho MŨI (hay tỷ căn) của người dân (trẻ cũng như già) không bị những mùi thơm tục lụy, làm cho nhơ đục trí khôn, phản chiếu thói xấu vào ý căn (TÂM).
-Văn hóa giáo dục phải làm thế nào để cho LƯỠI (hay thiệt căn) của người dân (trẻ cũng như già) không bị những vị lạ, làm cho nhơ dục trí khôn, phản chiếu thói xấu, như nghiện ngập, say sưa vào ý căn (Tâm).
-Văn hóa giáo dục phải làm thế nào để cho làn da (hay thân căn) của người dân (trẻ cũng như già) không bị những đụng chạm kích thích dục tính, làm cho nhơ dục trí khôn, phản chiếu thói xấu vào ý căn (TÂM).
-Văn hóa giáo dục phải làm thế nào để cho Ý CĂN (hay TÂM) của người dân (trẻ cũng như già) không bị những tư tưởng tham lam, ích kỷ, ý thức hệ cố chấp, gây hận thù…làm cho mờ đi sự sáng suốt, mất tính liên đới, phản chiếu trọn vẹn các thói xấu vào chính nó.
Nghĩa là, những người có trách nhiệm văn hóa và giáo dục của một nước, phải làm sao hướng dẫn, khuyến khích người dân tự cải thiện «bản năng phàm tục» thành «bản năng thanh cao». Vì trong BẢN NĂNG của mọi động vật (kể cả con người) vẫn có 2 mặt đối nghịch LÀNH và DỮ.
*Lành là biết nhận ra đồng loại, sẵn sàng chan hòa tinh khí để duy trì nòi giống, rồi che chở các mầm non của loài mình. *Dữ là hung bạo, mù quáng (vô minh) bảo vệ sự sống trước mọi đối tượng chưa chắc nguy hiểm, hay chưa chắc gây ra sơ sệt, đói khát, chết chóc cho mình.
Thực tế, nhân loại ngày nay không còn nằm trong tình trạng man rợ như xưa. Trái lại loài người đã «tiến bộ» rất nhanh. Trên thế giới đã có khá nhiều tôn giáo xiểng dương «đạo đức». -Tất cả đều đề cao khẩu hiệu «làm lành lánh dữ». Đáng tiếc thay, hạnh lành đã không tăng thành đa số trong xã hội loài người, và tánh dữ đã không giảm thành thiểu số. Tuy Mặt vật chất của xã hội «văn minh» có vẻ cải thiện không ngừng, nhưng mặt tinh thần, rõ ràng ác tánh mỗi ngày một lấn áp thiện tánh !

Ngay cả trong lĩnh vực «tôn giáo», không phân biệt tín ngưỡng. Đi tu ngày nay dường như là một cái nghề dễ phát đạt, hơn là thể hiện một nguyện vọng hướng thượng, sống thanh cao để giảm khổ cho mình, và làm gương thân giáo cải thiện cho người, xây dựng xã hội. -Đoạn nầy người viết hoàn toàn không có ý «quơ đũa cả nắm», kính mong quá hiếm các nhà tu hành chân chánh tha thứ !
Ác tính trong con người thời đại mới đã trở thành tinh vi. Sự cạnh tranh, giết chóc hàng loạt hay cướp đoạt của cải, tình cảm của những kẻ yếu thế, đã trở thành siêu đẳng, có «kỹ thuật». Như trong trường hợp một số nước vừa kết thúc chiến tranh, xã hội từ đa đảng trở thành độc đảng, bộ máy cai trị của phe thắng trận «tự do» sinh sát, người dân lãnh thổ thua trận phải «cung kính» dâng hết tài sản của mình cho «kẻ cầm quyền mới», mà lòng còn sợ «bị từ chối». Vì «từ chối» tức là gián tiếp nói rằng “đám dân ấy có thể bị kết tội chết” ! -Thảm kịch !
Quay lại 6 căn, Phật học gọi 6 căn nói trên bằng một cái tên khác là THÂN NGŨ UẨN, gồm 1/sắc uẩn (=thân vật chất), 2/thọ uẩn (=thân cảm giác), 3/tưởng uẩn (=thân kết tập), 4/hành uẩn (=thân vận chuyển), 5/thức uẩn (=thân biết việc mình làm nằm trong luật nhân quả).

«Năm thân» nầy hợp với «ý thân» lập thành một «hỗn hợp tập khí» gọi là con người. Và con người chỉ luôn luôn hành động, xuyên qua cái mà chúng ta thường gọi là «tâm vật», hay nhà Phật gọi rõ ràng hơn là thân khẩu ý. -Tương đương với 6 giác quan. (=Thể xác và tinh thần).
Nói cách khác TÂM VẬT» theo quan niệm bình dân và được giản dị hóa, chính là ý căn cộng với ngũ căn (hay giác quan thứ 6 cộng với 5 giác quan kia), khi tuổi thọ một đời người chưa chấm dứt.
Hơn nữa, người tu Phật tại gia vốn quyết tâm tình nguyện, chứ không phải chạy theo cái «mode» của xung quanh, cũng không tuyên bố suông cho giống «đồng đạo», mà cố ý gìn giữ 5 giới : 1/không sát sinh, 2/không lấy của người, 3/không tà dâm, 4/không nói dối, 5/không dùng chất say. -Tình nguyện giữ đúng 5 giớithực hành bước đầu, trong việc thanh lọc năm giác quan (cụ thể) lẫn giác quan thứ sáu (trừu tượng). Vì gìn giữ 5 giới nêu trên chính là thiết lập THỌ CẢM TỐT, tương tức lành mạnh, và nuôi dưỡng vùng «thần giao» hòa hợp với xung quanh, giữa tâm thức mìnhtâm thức người (hay giữa tâm thức mình và tâm thức chúng sanh, vạn vật).
Trước tiên, giữ đúng 5 giới tức là không gây oan trái với cuộc đời. Tiếp theo người tu Phật mới áp dụng các pháp hành khác, như thiền pháp, và hạnh bố thí cũng như tế độ chúng sanh đúng cách. -Bước đầu giữ giới nầy nếu không thực hiện đầy đủ, thì những bước sau sẽ không bao giờ thành tựu, dù cho người ta có giỏi biện luận đến đâu !
-Thứ tự GIỚI ĐỊNH TUỆ trong nhà Phật do đó mà có. Như câu kinh bao hàm ý nghĩa thực hành, mà chúng ta thỉnh thoảng được nghe là : «Giới năng sinh định. Định năng sinh tuệ».

Khi hành thiền thành công, minh sát cảm giác nơi mình, 
thì người tu Phật tự biết rằng :
Cái gì MẮT nhìn THẤY, ấy chỉ là một hình ảnh, như muôn ngàn hình ảnh.
Cái gì TAI nghe THẤY, ấy chỉ là một âm thanh, như muôn ngàn âm thanh.
Cái gì MŨI ngửi THẤY, ấy chỉ là một mùi, như muôn ngàn mùi.
Cái gì LƯỠI nếm THẤY, ấy chỉ là một vị, như muôn ngàn vị khác.
Cái gì DA chạm THẤY, ấy chỉ là một đụng chạm, như muôn ngàn đụng chạm.
Cái gì Ý ghi THẤY, ấy chỉ là một ghi nhận, như muôn ngàn ghi nhận.

Các «giá trị» phân biệt qua các cảm quan chỉ là nhất thờicó điều kiện !
Chữ «THẤY» ở đây là….«thiền tâm thấy». Nhưng vọng tâm thì không thể thấy như thế. Vọng tâm chỉ thấy những «dấu ấn» lộn xộn, loạn lập…..
Tất cả những dấu ấn do vọng tâm thấy ghi lại, đều tự nhiên chồng chất, và tập nhiễm lên nhau. «Cuốn sổ phàm tâm» khi con người còn sống, không bao giờ có «trang chót». Nó chẳng bao giờ đạt đến trạng thái «ĐẦY», hết chỗ để viết. Như lòng tham vô đáy vậy !
Nói cách khác, khi một người không tu Phật, và Ý CĂN không ghi nhận một cách giản dị, thông thoáng, như thế, thì tâm thức của người ấy sẽ bị tràn ngập bỡi những vọng tưởng, do các làn sóng cảm giác đối nghịch gây ra. -Những ấn tượng phàm tục ghi nhận ấy, nếu THUẬN VỚI THÂN TÂM, người ta bảo là thích hợp (=«dễ thương»=tốt=kusala), hay nếu nó NGHỊCH VỚI THÂN TÂM, người ta bảo là không thích hợp (=«đáng ghét»=xấu=akusala).

Rồi tâm thức phàm nhân chắc chắn sẽ bị vùi dập trong những cặp cảm giác đối nghịch, lưỡng cực, vô biên. -Cả hai chữ kết «TỐT» và «XẤU» ở cuối hai nhóm chữ «người ta bảo là….» ám chỉ cặp «TÂM QUẢ của tập khí THÂN KIẾN», do vô số nghiệp quá khứ tồn trử tạo ra.
Tồn trử cũng có nghĩa là CÔ ĐỌNG, HUÂN LẬP hay HỖN HỢP và THU GÓP, thay đổi triền miên, không bao giờ ở tình trạng cũ. Đó là một tiềm lực tiếp nối (Patisandhibàla) giữa tư tưởng đi trước và tư tưởng đi sau xuyên qua 6 căn, hay giữa sinh hướng đến tử, và cũng giữa tử hướng đến sinh. Chúng thay phiên nhau làm nhân duyên khởi đầu, tạo ra vô số vòng quay cho bộ máy luân hồi. -Trải qua 4 giai đoạn : Thành trụ hoại không !

Lại nữa, các ẤN TƯỢNG PHÀM TỤC (ghi nhận) ấy vốn không có tự tánh, không có nguồn gốc nhất định. Nó không căn bản, và vĩnh viễn vô thường.
Người tu Phật có chánh niệm, tỉnh giác không để những «ấn tượng trong thân kiến giả lập» ấy chi phối, lung lạc, thúc đẩy họ phản ứng một cách mù quáng, phát ra những hành động, hầu hết là xấu, thuận theo chiều hướng của thân kiến.

Vì theo nhà Phật, «TÂM QUẢ của THÂN KIẾN» luôn luôn biểu lộ rằng : «Hợp với thân thì lạc»«không hợp với thân thì khổ». Và tình trạng ấy chỉ làm cho «thân ngũ uẩn» chịu đựng một cách bồng bột nhất thời, chứ không phải là số mệnh. Những kẻ có TRÍ THỨC hướng thiện, khi đã chuyển được ba nghiệp thì thân kiến đó chấm dứt !

Xuyên qua từng giây phút trong đời sống một kiếp người, ngũ căn (hay năm giác quan) luôn luôn tương tác với ý căn. Nếu con người thường xuyên giữ giới và chánh niệm, tỉnh thức…..ghi nhận thực tại trần cảnh một cách cởi mở, thông thoáng thanh tịnh, rằng «NÓ CHỈ LÀ MỘT TRONG NHỮNG CÁI ĐẾN RỒI ĐI NHƯ THẾ», thì ý căn sẽ không bị «dằn vật» giữa khổlạc, giữa hỷ ưu.

Từ đó tâm người thiện trí bớt hay không tham lam, chụp lấy cái nầy, bớt hay không sợ sệt (=sân hận, đố kỵ), lẫn tránh, phá hủy cái kia. Ý CĂN của người tu Phật, vì vậy sẽ yên ổn, thư thái, và hùng hậu.
Lúc thân ngũ uẩn già nua, suy sụp, tiêu hoại….thì ý căn của người ấy chỉ còn trong nó «DƯ QUẢ NHẸ NHÀNG». Và Ý CĂN vốn cũng là mặt trái của tâm còn tham sống nên «thức tái sinh của động tử» sẽ tốt hơn.

Ấy chính là lý do mà Thánh nhân Tu-đà-hườn (Sotàpanna) trong nhà Phật, là bậc đã chặt đứt 3 sợi dây đầu tiên trong 10 sợi dây trói buộc luân hồi, là thứ nhất dây THÂN KIẾN, thứ hai dây HOÀI NGHI, và thứ ba dây GIỚI CẤM THỦ.
Dây thứ ba nẩy ám chỉ mê tín dị đoan, tin vào hiệu lực của nghi lễ, và tin quyền năng hoang đường của của «linh vật» bên ngoài. -Hàng THIỆN TRÍ không thể rơi vào trạng thái ngu dân, nhờ khả năng thanh tịnh !

Nhưng trước khi đạt tới thánh quả căn bản Tu-đà-hườn (bất đọa), MỤC ĐÍCH trước mắt của người THIỆN TRÍ sống theo đạo Phật là :
TẠO DUYÊN TỐT TRONG SÁU CĂN (hay SÁU GIÁC QUAN),
ĐỂ CHO SỰ SỐNG HIỆN TẠI VÀ TIẾP THEO ĐƯỢC TIẾN HÓA !
-Nghĩa là :
TU HÀNH LÀ LÀM CHO MẮT-TAI-MŨI-LƯỠI và LÀN DA (trên thân)
ĐƯỢC LÀNH MẠNH !

Cư sĩ Tuệ Lạc sưu tầm. -Ivry sur Seine, France, ngày10/7/2016.

*NIỆM THÂN (Kàya Satipatthàna) là một chi pháp trong Tứ Niệm Xứ (Catu sati patthàna), mà chúng tôi đã tự mình thực hành từ lâu, và thường chia xẻ đến chư đạo hữu, cũng như đề nghị quí vị, hãy tự lực lẫn khách quan áp dụng.
Mise à jour le Samedi, 16 Juillet 2016 23:05  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS