Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home

Trần tình (5).

Trần tình 5.
(Kỷ niệm TAM HỢP, Phật lịch 2558, Dương lịch 2015)



Nhân dịp đại lễ TAM HỢP, kỷ niệm 3 hiện tượng thánh thiện lịch sử (là đãn sinh, thành đạo, và nhập niết-bàn) của Phật Tổ THÍCH-CA MÂU-NI (Sakya Muni Buddha), đã xảy ra vào ngày trăng tròn tháng VESAK thuở xưa.
-NGÀY ẤY năm nay là «thời gian nằm giữa» cuối tháng 5 và đầu tháng 6 dương lịch 2015, nếu so với giờ giấc tại Pháp). -Nhóm chủ trương website tuelac.net, chân thành kính gởi đến quí đọc giả bốn phương lời CHÚC MỪNG THANH TỊNH, hướng thiện….để cùng nhau hành đạo, tỉnh thức tu thân, xiểng dương giáo lý giải khổ của Phật Đà.
Và như thường lệ, chúng tôi cũng không quên gởi đến qúi vị một bài TRẦN TÌNH, tính từ ngày website tuelac.net được thành lập đến nay TRẦN TÌNH đã 5 số. Mục đích là để chia xẻ quan điểm của chúng tôi với quí vị, liên quan tới sự chan hòa pháp học, và duy trì pháp hành.
Chúng ta là những người con Phật, sinh sau đẻ muộn. Và Đức Từ Phụ đã vắng bóng cách nay 2558 năm, giáo lý của Ngài, trải qua bao nhiêu thế hệ thăng trầm, hội nhập vào bao nhiêu xã hội đa dạng, NÓ chắc chắn phải bị thay đổi.
Do đó, sự trình bày quan điểm (lẫn lắng nghe), giữa những người con Phật, là một điều cần thiết, để chúng ta trao đổi hiểu biết (dù khiêm hnượng), và cống hiến THIỆN Ý cho nhau, hầu may ra chúng ta có thể sống đạo, «bớt lệch xa» nguồn giáo lý của ĐẤNG TRỌN LÀNH, tạo an vui cho mình và cho người !
-Đề tài của bài trần tình năm nay có tựa là :
« TU HÀNH THỰC CHẤT NHƯ LÀ Gì ? »
Đây không phải là một đề tài «hiếm khi nghe», hay ít ai nghĩ đến, mà nó là một vấn đề, có thể xem khá phổ thông, đối với những người «hướng thiện», muốn có đời sống tâm linh lành mạnh, hay «văn hóa tiến bộ».
«TU HÀNH THỰC CHẤT LÀ GÌ ?» được đặt ra một trong khung cảnh ngày nay, «LÝ và SỰ đạo đức trong đời sống, dường như tương phản», rằng  «ai cũng muốn tu thân, làm tốt, để được an vui hạnh phúc hằng ngày, ngay trong kiếp sống nầy, nhưng kết quả xảy ra, mỗi lúc một ngược lại».
Nghĩa là «-Làm tốt thì tại sao kết quả nhãn tiền lại không tốt ?!».
«Lý và sự đạo đức ở dây đang tương phản», đối với lòng tin và dựa theo luật nghiệp quả, của hầu hết mọi người. Và lẽ dĩ nhiên câu hỏi không thể nào không đặt ra một cách «phê phán», rằng «đa số trong xã hội vẫn sốt sắng tu hành, nhưng kết quả cụ thể của «sự tu hành», nhìn chung hoàn toàn không tương xứng», nếu không muốn nói là «ngược lại» (?!)
-Nghĩa là thực tại khổ vui trước mắt, là hậu quả của đạo dức suy đồi, hay hậu quả của một tình trạng RẤT ÍT, hay KHÔNG tu hành !
Hai chữ «thực chất» (được gạch dưới) trong bài trần tình hôm nay, xem ra là «tâm điểm» của vấn đề. Hai chữ ấy rất quan trọng. Chúng hiển nhiên «chuyên chở» cái «tiềm lực của đức hạnh» (nhân cách bên trong). Và chúng hoàn toàn không chuyên chở sự mô tả bề ngoài, như 2 chữ «thực tế». Xin phép phân biệt :
                  -«Thực chất» ám chỉ «nội dung» của hành động.
                  -«Thực tế» ám chỉ «hình thức» của hành động.
Vậy «nội dung» đó là gì ?
«TU HÀNH» là sửa đổi tất cả hành vi (do thân cũng như do tâm) của một người, từ xấu ra tốt. Và 2 chữ «thực chất» theo sau 2 chữ «tu hành» để nhấn mạnh rằng «đó là sự im lặng làm đúng theo Phật ngôn, mà không ngã lòng, không chùn bước, hay không ngần ngại trước ngoại cảnh».
-Theo Phật học, hai chữ «thực chất» ở đây vốn đại diện cho «sự tình nguyện sửa mình đầy đủ», do tính tự lực quyết tâm. «Tu hành» ấy không phải chỉ thực hiện trong một giai đoạn, hay làm theo phong trào, «thời trang» !
Nhưng trước khi chia xẻ xa hơn vào Phật học, chúng ta thử khách quan tìm hiểu vài khái niệm «dân gian», tổng quát về hai chữ «tu hành».
«Tu hành» theo quan niệm của đa số người Việt nói riêng, và cộng đồng «Hoa Việt» châu Á nói chung,  là ăn chay (định kỳ hay thường xuyên), là cúng bái, là tụng kinh gõ mõ, «niệm Phật vãng sanh», là trai tăng, bố thí, và thỉnh thoảng phóng sinh, và làm việc xã hội…..với đầy đủ «nghi thức».
Còn những ai không theo đạo Phật, thì cũng làm những điều có «hình thức, lễ nghi tương tự», như các giáo sĩ của họ đã thường dạy dỗ.
Nhưng đáng tiếc…tất cả những «hiện tượng tu hành» vừa nêu trong xã hội ngày nay, dường như «quá nặng về hình thức», ít người nhấn mạnh đến bề dày nội dung. Ai không có «lịch trình ăn chay», không «tụng kinh niệm Phật» mỗi ngày, không «cúng bái», không «đi chùa», hay không «đi nhà thờ», không «cầu nguyện», không thỉnh thoảng làm «việc thiện công cộng» cho nhiều người nhìn thấy, thì có thể bị xem là «thiếu tu hành».
-Xin nói ra sự thật, và mong quí vị rộng lượng, nếu có 1000 người «ăn chay», hay 1000 người đi nhà thờ đọc «kinh tha thứ», mà là có đủ 1000 người thực sự yêu thương chúng sanh (hay đồng loại), và có đủ 1000 người thực sự tha thứ, thì cõi đời nầy đã giảm đi đau khổ rất nhiều rồi.
Tương tự như thế, nếu có 100 người cổ võ cho sự «dẹp bỏ cái TÔI» mà có đủ 100 người chỉ cần giảm thiểu cái tôi thôi, -và giữ lại chút ít cái tôi, để còn làm tròn nhiệm vụ CỦA mình , -không cần dẹp bỏ toàn bộ cái tôi (rồi ai trách nhiệm đây ?), thì tình trạng xung đội quyền lực từ nhỏ tới lớn (gây ra biết bao nhiêu xáo trộn trong xã hội, từ thấp tới cao) đã giảm đi bội phần.
-THÁNH NHÂN thì khác. Các Ngài không nói gì đến cái tôi (trong hay ngoài các Ngài cả), nhưng Các Ngài vẫn thản nhiên làm đầy đủ những gì mình phải lảm, không «đòi hỏi» người khác, phải như thế nấy hay như thế kia. Các Ngài luôn luôn vui vẻ hy sinh vì xã hội chúng sanh, hy sinh đến hơi thở cuối cùng, mà không cần được tôn vinh VÔ NGÃ !
Còn đa số phàm nhân thì thích «nêu gương» Thánh Nhân, biện bác nói về cái «tôi», một cách vừa lý thuyết «cụ thể» vừa ứng dụng «mơ hồ» trong hành động. Nhưng «cái tôi» thực sự ở đâu nào ai biết, nhất là nào ai có thể chỉ rõ, xác nhận đích danh(?), đặc biệt là «cái tôi, tác giả của mọi việc làm» trong đời sống ngày nay ! Xin nhấn mạnh rằng «thuyết vô ngã» trong nhà Phật, không nên bị lạm dụng trong trường hợp nầy !
-Xét cho cùng, nhớ lại giáo lý của Đức Phật, chúng ta chỉ thấy độc nhất lòng THAM mang dủ thứ danh nghĩa, trong đó «có cái tôi» lẫn «không có cái tôi», và cả hai «CÓ, KHÔNG» ấy, đều với mặt trái hoàn toàn vô trách nhiệm.
Cho nên, người ta mỗi ngày vẫn chỉ trích rầm rộ «cái tôi sinh ra các tệ đoan», nhưng khi cần tìm «thủ phạm gốc», để giải quyết tệ đoan, thì cả «xã hội trừ gian» chỉ tìm ra những «con vậy hy sinh», hay «cái tôi chầu rìa», tức là «cái tôi nầy» sẽ phải bị trừng phạt đúng theo «luật pháp», mà «nó» chẳng ăn nhập gì đến vai trò chủ chốt, hay nguyên nhân chính của tệ đoan cả. «Tiêu diệt» người thừa hành gây tệ đoan nầy, thì sẽ có người thừa hành gây tệ đoan khác ! Nhiều khi «tệ đoan» ấy trầm trọng tới mức «bán nước», phản bội đồng bào !
-Xem ra chưa thực sự tu thân, chưa vô hiệu hóa nổi lòng THAM, để trở thành Thánh nhân, mà lý thuyết «dẹp bỏ cái tôi» là gián tiếp bảo kẻ khác nhường nhịn, rút lui, đứng dưới, để cho mình tùy trường hợp chiếm ưu thế, khéo léo đóng vai trò «phục vụ cộng đồng», hầu thu góp nắm giữ nguồn lợi, huyết mạch kinh tế, quyền lực sinh sát, bất kể mình có chút hạnh kiểm nào không !
-Đáng buồn hơn hết là «lòng tham ấy» cũng lộng hành không kém, ngay cả trong các tôn giáo, vốn lấy «đạo đức» làm nền tảng !
Ngày nay, số người tu hành, «ăn chay hình thức» và số người «đọc kinh tha thứ như thời trang»…. -nói chung đã lên tới mức khá cao, nhất là số nhà nước chủ trương «sửa sai guồng máy, «thanh bạch hành chánh, cải tiến xã hội», trên thế giới theo thống kê, tỏ ra càng ngày càng đông, nhưng vì thiếu từ bi, thiếu tha thứ, thiếu người cầm đầu tuân theo luật làm gương, thiếu thật lòng cải cách, trong đời sống con người, nên những bất hạnh vẫn gia tăng hằng ngày, gia tăng một cách báo động… -Ai cũng biết bỡi nguyên nhân gì ?
-Chúng tôi vẫn thường xuyên trao đổi ý kiến với một số cao tăng Phật Giáo Bắc Truyền, cũng như qúi thân hữu ăn chay, thấm nhuần giáo lý, và nghe họ thẳng thắn nói rằng, ăn chay là truyền thống đẹp của nhà Phật, «ăn chay dễ tiêu, rất tốt cho sức khỏe của người tu hành» (ngoại trừ ăn phải những đồ chay, mà khi sản xuất, người ta bỏ quá nhiều hóa chất bảo trì, để đáp ứng lâu dài cho khách hành, có tính cầu kỳ, chế biến đồ chay ra dạng nầy, dạng khác…..).
Như vậy, chỉ có hai chữ «ăn chay» thôi, không nói lên phẩm chất của người tu Phật. Đa số dân chúng Ấn Độ ngày nay ăn chay, nhưng họ là những tín đồ nhiệt thành (lắm khi đến cuồng tín) của Ấn Độ giáo (Hinduisme).
-Nghĩa là ăn chay không phải là yếu tố «toàn diện» trong việc tu hành. Ăn chay chỉ là một trong những phương tiện tu tập tốt. Và nói như vậy không có nghĩa là chúng tôi gián tiếp «biện hộ» cho việc ăn mặn, hay tán thành hành động làm đổ máu, thường xuyên sát sinh.
Chưa kể, hiện tượng «ăn chay ăn mặn» đã làm cho Phật giáo đồ bất đồng, chia rẽ, ngấm ngầm xung đột lẫn nhau, từ nhiều thế kỷ rồi. -Càng «biện hộ» cho bên nầy hay cho bên kia, thì càng làm cho hai bộ phân trong thân thể PG xấu hơn.
-Chúng ta hãy im lặng nhớ lại (hay đọc kỹ) Phật ngôn, rồi cố gắng hòa đồng, làm đúng là tốt nhất. «Hòa đồng» có nghĩa là khi sinh họat với cộng đồng Phật tử  Bắc Truyền, thì tôn trọng ăn chay, khi sống chung với Phật giáo Nam Truyền thì thực phẩm phải theo TAM TỊNH NHỤC. (-Ngoại trừ lý do sức khỏe !). *Phật dạy TAM TỊNH NHỤC là không thấy, không nghe, và không nghi vì thực phẩm cho mình, mà chúng sanh (từ cực nhỏ đến cực lớn) bị chết.
-Người con Phật tại sao không tu theo PHẬT THỪA, mà lại đặt vần đề phải tu theo «đại thừa» hay theo «tiểu thừa» ?! Còn trong Phật thừa, hạnh tu nào hữu hiệu nhất, hợp với căn cơ cá nhân, thì hành giả thanh tịnh mà làm, trước tiên thành tựu Thánh quả cho mình, sau làm gương hướng dẫn người, cần gì phải phân biệt, đề cao cách nầy hay cách khác, riêng rẽ ấy ?
-Vậy PHẬT THỪA «tu hành thực chất như thế nào ?»
Hai chữ «thực chất» trong đề tài hôm nay, tự nó đã nói lên một phần lời giải đáp. «Thực chất» ở đây chuyên chở ý nghĩa cốt lõi, hay nội dung của sự tu hành. Nó là cái giá trị mặc nhiên của một Thích tử phạm hạnh, hay một đệ tử tự nguyện sống theo lời Thế Tôn Thích-Ca Mâu-Ni, hay sống đạo.
Và trước khi đi sâu vào «SỐNG ĐẠO», chúng tôi xin phép quí vị được nhắc lại câu chuyện Bồ-tát Sĩ-Đạt-Ta Cồ-Đàm (Siddharta Gotama Bodhisatvà) đã ròng rã trải qua 6 năm tuyệt đối khổ hạnh.
Sáu năm ấy Ngài cũng đã «hoàn toàn sống đạo» một cách cực kỳ tinh tấn, mà chưa có một giáo chủ nào trong lịch sử tôn giáo, đã làm được như thế. Nhưng rất tiếc Ngài đã không đạt đến cứu cánh cuối cùng, vì không sống trong trung đạo (Majjhimapatipadà magga). Và chỉ sau khi Ngài «giác ngộ», THỰC HÀNH TRUNG ĐẠO cả thân và tâm, thì Ngài mới thành Phật.
-Xin kính mời quí vị tìm đọc lại đoạn đầu của kinh Chuyển Pháp Luân (Cakkappavattanasutta), bài kinh Đức Phật thuyết trước tiên sau khi thành đạo, để lăn Bánh Xe Pháp. (Chúng tôi đã dịch và trình bày song ngữ Pàli-Việt, trên website tuelac.net).
Trong đoạn đầu bài kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN nầy, Đức Phật đã khuyên năm đạo sĩ khổ hạnh Kiều-Trần-Như (Panca Vaggika Kondanna), phải tránh xa hai điều thái quá : Một là tuyệt đối hành xác, và hai là sống lợi dưỡng, chạy theo đòi hỏi vô đáy hướng về hưởng thụ của thân thể.
Sau nầy, vào thề kỷ thứ V (sau Thiên Chúa), có một bộ sách Phật học rất quí đã ra đời. Đó là bộ THANH TỊNH ĐẠO (Visuddhimagga), do một Thánh Tăng tên Phật Âm (Buddhaghosathera) dịch soạn. Bộ sách nầy tập hợp những pháp môn chọn lọc, hữu hiệu, sâu sắc, và khả thi….để giúp những ai muốn thật sự tu Phật, dành nhiều thì giờ cho thực hành, hơn là tư duy lý thuyết.
Chúng tôi dựa trên hai nguồn kinh điển ấy, để hôm nay chia xẻ đến qúi vị, một số «nội dung Phật học», tạm gọi là «thực chất tu hành».
Theo Phật giáo nói chung, và theo hai nguồn kinh sách nêu trên nói riêng, thì «TU HÀNH THỰC CHẤT» là sống trong Thanh Tịnh Đạo.
Đã đành giáo lý «Thanh Tịnh Đạo» đặc biệt nói về phạm hạnh của bậc xuất gia, vì đối tượng khi Phật nói Pháp không phải là cư sĩ. Nhưng như thế không có nghĩa là người tu tại gia không thể tùy nghi áp dụng một cách lợi lạc.
Chúng ta cũng biết rằng, trong lịch sử Phật giáo, đã có những cư sĩ hộ pháp đắc quả giải thoát, trở thành Thánh Nhân. Do đó, quan niệm «đóng khung», cho rằng «muốn giải thoát thì phải tuyệt đối làm người xuất gia» là một định kiến cố chấp. -Dĩ nhiên sự «xuất gia» rất đáng đề cao, nhưng đó không phải là phương pháp duy nhất và bắt buộc, mới có hiệu lực !
Ngoài ra, liên quan đến hạnh tu, chúng ta cũng phải phân biệt 2 trạng thái tinh thần, là cố chấpquyết tâm đi trên con đường giải thoát. -«Cố chấp» thuộc về tối tăm. -«Quyết tâm đi trên con đường giải thoát» thuộc về sáng suốt.
-Khi CỐ CHẤP thì mắc dính vào ngôn ngữ, tập quán, dư luận, tư duy (chủ quan). -Còn khi QUYẾT TÂM ĐI TRÊN CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT, thì học hành luôn luôn mở rộng (phương tiện), giữ ý quên lời, lấy kinh nghiệm cải thiện làm phương pháp cho nguyện lực tiến hóa.
Đó là xây dựng hạnh tu toàn xả, phá nghi, phẩm cách nòng cốt của sự giải thoát tâm linh, dù cho hành giả có hạn chế tối đa sự nuông chiều thân xác !
-Xin nói rõ rằng, TÌNH NGUYỆN sống cực kỳ đạm bạc, là để không mắc dính vào sự đòi hỏi vô đáy của xác thân. Đó là sáng suốt, TỰ LỰC tu hành khắc khổ theo đại phạm hạnh. -Nhưng nhắm mắt tin vào sự hành xác, không chú ý đến tương quan tâm vật, không củng cố sự sáng suốt của tâm linh, hay mù quáng hiến thân cho thần thánh, rồi «hành xác» dưới mọi hình thức, để làm hài lòng thần linh và cầu tha lực cứu rỗi linh hồn….là cực đoan, si mê, cuồng tín !
Hai hình thức «tu khắc khổ nhưng sáng suốt phạm hạnh» và «nhắm mắt hành xác hiến thân cho thần linh», nhìn bề ngoài hình như giống nhau, nhưng nội dung hoàn toàn khác !
Vả lại, để bổ túc cho vấn đề nầy, một câu hỏi phụ có thể được đặt ra, «Mục đích trước mắt (hay kết quả gần) của sự tu hành là gì ?».
Trong cộng đồng tin Phật, chúng ta ai cũng biết rằng «mục đích trước mắt của sự tu hành là để giải bớt cái khổ…ở thân và tâm», hay ít nhất là «để giảm bớt sự trầm trọng của nghiệp quả khổ lẫn vui, hoán vị liên hoàn, do tham sân si thúc đẩy….trong hiện tại».
-Như vậy, TU HÀNH vốn có liên quan mật thiết đến sự đối phó với cả KHỔ lẫn VUI. Và nếu đau khổ có thể được tu hành hóa giải, thì trạng thái an vui (hay hạnh phúc), cũng có thể được sự TU HÀNH gây ra, duy trì, không để nó xoay chiều biến thành nhân ác. -Duy trì tu hành tức là duy trì thiện hạnh, hoàn bình cho mình và cho người.
Mối tương quan nầy (giữa bộ ba khổ, vui,tu hành) là một giáo lý quí báu, sâu xa trong nhà Phật. -Chúng ta thử tìm hiểu tiếp :
      -KHỔ là cái gì mà chúng ta phải nhờ tu hành hóa giải ? –Và
     -VUI là cái gì mà chúng ta phải nhờ tu hành gây ra, duy trì ?
Hai nội dung “khổ là gì” và “vui là gì” được gợi lên trong hai câu hỏi nêu trên, chỉ để nhắc nhở mà thôi. Chúng tôi biết chắc rằng quí vị đã trải qua rất nhiều buổi pháp thoại, hội thảo, phân tích về cả KHỔ lẫn VUI rồi.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin nêu ra đây một số trạng thái «khổ» «vui», mà dĩ nhiên ai cũng biết. -Chẳng hạng như ác tâm là khổ, chậm tiến (ngu dân) là khổ, nghèo cực là khổ, bất công là khổ, độc tài là khổ, thiên tai địa ách là khổ..v..v…
Còn nói theo Phật giáo, thì sinh- lão-bệnh-tử…. là khổ. Bất mãn trước bất cứ chuyện gì là khổ, thương mà phải xa, ghét mà phải gần cũng khổ. Và ám chỉ cái «vui», viết trong ngoặc kép như trên đây, thì ngay cả sự giàu sang, danh vọng, quyền lực, sắc đẹp, sức khỏe….trên «nguyên tắc» thì ai cũng bảo là «vui», nhưng bên trong vẫn chứa những mầm lo âu, hay chịu đựng !
Riêng cái «VUI AN LẠC» nói theo nhà Phật thì khác. Đó là những đạc tính ngược lại. Khi tâm tư của một người mà ít (hay không) bị những nỗi chịu đựng «khổ vui» nói trên đè nặng, thì ấy gọi là VUI THANH TỊNH !
Vả lại, chúng ta cũng đã từng nghe nói đến TÍNH TỰ LỰC, như :
«Ai ăn nấy no. Ai tu nấy được», hoặc xa hơn :
«Không ai có thể đơn phương làm cho ta đau khổ», cũng như :
«Không ai có thể đơn phương ban cho ta an vui».
Tất cả đều liên quan chặc chẽ đến phẩm cách tương tác,
-Tức là tương tác giữa 2 trường hợp TU HÀNH, hay không có TU HÀNH !
Từ đó, những vần đề liên quan vật lýsiêu hình, như «tự lực», «tha lực», «phép lạ», «thiêng liêng thưởng phạt», «rủi may», «biệt nghiệp», «cộng nghiệp» cũng được hiệu quả của sự TU HÀNH hay KHÔNG TU HÀNH chi phối.
           Xin trình bày vắn tắc, dưới dạng «hệ luận» như sau :
             *Nhờ TU HÀNH mà tự lực biến thành tha lực.
             *Nhờ TU HÀNH mà tha lực đáp ứng tự lực.
             *Nhờ TU HÀNH mà con người thấy được phép lạ.
             *Nhờ TU HÀNH mà có sự cảm ứng, linh thiêng.
             *Nhờ TU HÀNH mà rủi hóa thành may (giảm tội).
             *Nhờ TU HÀNH mà biệt nghiệp thay đổi cộng nghiệp.
             *Nhờ TU HÀNH mà cộng nghiệp duy trì biệt nghiệp.
Còn KHÔNG TU HÀNH thì phải sống trong các tình trạng ngược lại, bao gồm tất cả những thoái hóa, khổ đau, tối tăm bất tận.
 Với chiều sâu THỰC SỰ TU HÀNH, chúng ta vẫn tự hỏi, chúng ta đã “sửa mình đúng mức chưa”, nhất là đã thực sự tu thân theo luật tương tác chưa (?), hay chúng ta chỉ thường xuyên nhớ lý thuyết, và ỷ lại vào “niềm tin vụ lợi”, hướng về tha lực, bằng cúng bái cầu xin, qua hình thức nghi lễ ? 
Giả sử SỰ KỲ DIỆU (đại diện cho tha lực) của tôn giáo, không phân biệt đạo nào, được cụ thể hóa, và tượng trưng bằng hiệu lực của tiếng chuông, thì cái chuông đơn phương không thể “ban cho” chúng ta những âm thanh ngân vang, siêu thoát kỳ diệu, chứa đầy kinh cảm, làm nhẹ lòng người, một cách linh cảm như thế, mà chính là do chúng ta thanh tịnh, đã cầm dùi thực sự gõ vào cái chuông ấy, một cách tỉnh thức. (-Tương tác vật lý giữa người và chuông).
-Tất nhiên, nếu không có cái chuông, thì chẳng bao giờ có tiếng ngân vang, với năng lực cảnh tỉnh trên cõi đời lắm xung đột nầy. -Cũng như nếu không có tôn giáo thì làm sao có sự linh thiêng, cảm ứng !?
Như câu thơ bất hủ sau đây, nhắc đến tiếng chuông chùa Hàn San (Tô Châu), trong thi văn sử Phật giáo Trung Hoa :
 “Bán dạ chung thanh đáo khách thuyền” (!)
(“Nửa đêm tiếng chuông ngân đến thuyền khách”…
làm “lâng lâng” hồn người)
Nghĩa là, nếu hành động thật sự không đủ, để phát ra tiếng chuông, thì con người làm sao nghe và cảm nhận được âm thanh ngân vang, một cách thanh cao thoát tục ?! -Cũng như nếu không có tự lực thì làm sao có tha lực đáp ứng, để cho con người tiếp cận với sự kỳ diệu muôn đời ?
Theo Phật giáo “sức mạnh tự lực” do TU HÀNH TRUNG ĐẠOkhả năng hữu hiệu nhất, trong việc vượt qua những khó khăn tinh thần lẫn thể xác, gọi là giải khổ, tạo vui, hướng về an lạc…..
Khi một người có chánh kiến thực sự, và với lòng tin sắc đá vào đức hạnh, luôn luôn giữ đúng 5 giới trong đời sống hằng ngày. Người ấy đương nhiên rất ít phiền não, hay rất ít oan trái, ít lo-buồn-sợ-giận. Khi họ muốn an lạc thì họ có thể đến trước bàn Phật “cầu được an lạc”, và họ liền cảm thấy.
-Phải chăng ấy là sự “linh ứng” ?
Hiện tượng kỳ diệu nầy nếu bình tâm xét kỹ, thì không phải “hoàn toàn” do tha lực, mà trước tiên do tự lực giới hạnh (tu hành thực sự). Đúng như câu “Giới năng sinh định. Định năng sinh Tuệ. -khi tuệ đã thanh tịnh thì hành giả thường xuyên dễ dàng nhận ra sự an vui nơi mình”.
Tiềm năng tự lực ở đây cũng là tiềm năng tha lực, và ngược lại tha lực vốn luôn luôn đáp ứng tự lực. Người ta há đã chẳng thường nói “thiêng liêng hằng khắp cùng hộ trì bậc giới đức” đó sao ?!
Một người sống với căn bản phạm hạnh, không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không dùng chất say, thì chủng tử lo, buồn, sợ, giận trong tâm người ấy, không có hay rất yếu. Họ có thể vượt qua thực tại (thuận hay nghịch) một cách dễ dàng.
 Sau đây là 1 Phật ngôn trong kinh Pháp Cú, «gói trọn» sự tu hành thực sự :
« Sabba pàpassa akaranam» =
“Chư ác mác tác=Không làm tất cả điều ác».
«Kusalassùpasampadà» =
«Chúng thiện phụng hành=Làm đầy đủ việc lành».
«Sa citta pariyo dapanam» =
«Tự tịnh kỳ ý=Giữ tâm luôn luôn thanh tịnh».
«Etam buddhàna sàsanam» =
«Thị chư Phật giáo=Đó là lời chư Phật».
Nội dung lời Phật nêu trên, nếu chúng ta diễn tả một cách khoa học thì : «Tu hành chính là tạo sự quân bình, điều hòa thân tâm, hay thiết lập lực cân bằng tinh thầnthể xác, trong sinh hoạt một con người».
                              -TÂM ám chỉ tinh thần, và
                              -THÂN ám chỉ thể xác.
Đối với một người, ngoài thân và tâm (hay tinh thần thể xác) ra, không có sự tu hành ở nơi khác. Tâm thân mà được quân bình, điều hòa do tu hành, thì đời sống tinh thần và thể xác sẽ hòa điệu, an vui, tự tại, giảm thiểu căng thẳng, do thất tình lục dục, hay lo buồn sợ giận gây ra !
-Thông thường, khi chia xẻ Phật học hay triết học, chúng tôi thiết nghĩ, càng ít đề cập dến những giáo lý cao siêu, khó hiểu càng tốt !
 Nhưng trong trường hợp nầy, Kinh Thanh Tịnh Đạo không thể bỏ qua, vì kinh ấy chứa «thực chất tu hành», hay kinh ấy hướng dẫn cách sống làm sao để giảm thiểu ác nghiệp, thanh tịnh quân bình, điều hòa thân và tâm ?!
Nội dung các chữ “thanh tịnh, quân bình, điều hòa thân và tâm” nêu trên, vốn rất sâu sắc và khoa học. Khi thể xác và tinh thần đã dần dần được thanh tịnh, quân bình, điều hòa…thì đời sống sẽ gia tăng an vui, tự tại, giải thoát.
Xin đừng ngại, “THANH TỊNH ĐẠO” (Visuddhimagga) chỉ dành riêng cho bậc xuất gia, mà như chúng tôi đã đề nghị trên đây, người cư sĩ cũng có thể học hỏi, thích ứng, áp dụng. Đó là một tập hợp những thiện pháp chọn lọc, để người thực hành (còn gọi là hành giả) tình nguyện sống đầy đủ phạm hạnh.
Xin trình bày đại cương THANH TỊNH ĐẠO gồm 3 phần sau : 
1/Thanh tịnh giới, hay hạnh kiểm trong vật chất, tức là tu luyện phần thể xác, qua thân và qua khẩu (miệng). Thanh tịnh giới ám chỉ kỷ luật vật lý trong sinh hoạt hằng ngày cho cá nhân, cho cộng đồng xã hội, và cho môi trường.
2/Thanh tịnh tâm, hay hạnh kiểm trong tinh thần, tức là nâng cao linh hồn, bằng ý thức thuần thục với pháp thiền. Thanh tịnh tâm ám chỉ kỷ luật tư tưởng, an định tinh thần, lành mạnh hóa cảm quan, tinh khiết hóa cảm thức, từ cá nhận đến xã hội, trước vạn vật, và trước chúng sanh, vũ trụ.
3/Thanh tịnh tuệ, hay hạnh kiểm trong giác tính sáng suốt, (tức là lọc sạch cả tư duy hướng thiện, phá chấp, biết chắc vạn pháp (cụ thể lẫn trừu tượng) vốn là «như thế». Đó là thuần thục hạnh tu bằng pháp toàn xả, chứ không phải bằng những “suy tư thoát tục”. (Thuộc về tưởng uẩn).
Khi nhận xét kỹ, chúng ta sẽ thấy Thánh nhân luôn luôn sống trong Thanh Tịnh Tuệ, với hạnh thoát tục, chứ các Ngài không sống với những tự ngã “trí  tuệ” , “thuộc lòng” những tư tưởng thoát tục (đã được phàm nhân say sưa viết thành những “danh ngôn”, văn chương qui ước, để thõa mãn lòng tham trong “kiến thức”, sở tri chướng !).
Đức tin của người tu hành thực sự cũng không phải là niềm tin trong tư tưởng cao siêu, mà là niềm tin trong chánh kiến, trong chánh niệm, (chánh định) và nhất là TIN do thực nghiệm xuyên qua pháp hành hướng thượng. Tin vào tự lực.
-Và dĩ nhiên đức tin đó là nguyên nhân của mọi “chiêu cảm siêu phàm”, hay nguyên nhân của những biểu lộ tiếp cận với tha lực, nói theo thần học !
Về phương diện TRÌ GIỚI, một người tại gia thực sự tu hành, là kẻ sống thuần thục trong Thập Thiện, hay Tam Thập thiện. Hành giả ấy rất ít, hay hầu như không quan tâm đến việc tìm tòi những “tư tưởng cao siêu, thoát tục”. -Những danh ngôn đầy tính cách lý thuyết, thường ru ngủ tri thức phàm tình.
Vì khi thuộc lòng những câu văn chứa “tư tưởng thoát tục” ấy, thì không khéo người phàm sẽ bị “đồng hóa” (nhập tâm), và đương sự sẽ dễ “tưởng mình thuộc hàng thượng căn, thượng trí, đã ngộ đạo”. (Nguyên nhân của ngã mạn, vướng mắc tinh vi, cội rễ của sâu thẳm vô minh).
Quay lại đề tài “thực chất tu hành là gì”, sau đây xin kê khai “Thập thiện pháp”, hay 10 GIỚI mà người cư sĩ thực sự tu hành, tình nguyện gìn giữ, trên hai phương diện ĐƠN PHƯƠNG (cá nhân) lẫn ĐA PHƯƠNG, gồm 3 phần.
ĐƠN PHƯƠNG THẬP THIỆN :
-Liên quan đến THÂN : 1/không sát sanh, 2/không trộm cắp, 3/ không tà dâm.
- Liên quan đến KHẨU 1/không nói dối, 2/không đâm thọc, 3/không nói vô ích (thị phi, hoang đường), 4/không nói thô lỗ, dâm tục.
-Liên quan đến Ý : 1/không đầu hàng trước lòng tham, 2/không làm mồi cho sự sân hận, 3/không mặc kệ tật si mê. -Cả 3 tật THAM SÂN SI đều ở trong ta, chứ không phải bên ngoài. (Tổng cộng 10 giới).
ĐA PHƯƠNG TAM THẬP THIỆN :
Tam Thập Thiện cũng là những giới vừa nêu, nhưng hành giả cần phải giữ một cách liên đới cùng người khác, như sau :
a/Thanh tịnh hóa cái THÂN : 1/không chính mình sát sinh, 2/không bảo vệ kẻ khác sát sinh, 3/không vô cảm trước sự sát sinh, 4/không trộm cắp, 5/không bảo vệ kẻ khác trộm cắp, 6/không vô cảm trước sự trộm cắp, 7/không tự mình tà dâm, 8/không hợp lực tà dâm, 9/không mặc kệ trước kẻ khác tà dâm. (9 điều)
b/Thanh tịnh hóa cái KHẨU : 1/không nói dối, 2/không bảo kẻ khác nói dối, 3/không ủng hộ sự nói dối, 4/không nói đâm thọc, 5/không bảo kẻ khác đâm thọc,  6/không tán thành sự đâm thọc, 7/không nói chuyện hoang đường mê tín, 8/không bảo kẻ khác nói chuyện hoang đường mê tín, 9/không tán thành chuyện hoang đường mê tín, 10/không nói lời cộc cằn dâm tục, 11/không bảo kẻ khác nói lời cộc cằn dâm tục, 12/không khen ngợi lời cộc cằn dâm tục. (Có 12 điều).
c/Thanh tịnh hóa cái Ý : 1/không đầu hàng khi khởi lòng tham lam, 2/không cố ý làm cho kẻ khác nẩy lòng tham, 3/không hoan hỷ trước sự tham lam, 4/không đầu hàng trước tật sân hận, 5/không cố ý làm cho người khác sân hận, 6/ không hài lòng trước sự sân hận, 7/không đầu hàng trước tình trạng si mê, 8/không cố ý làm kẻ khác si mê, 9/không hài lòng với tình trạng si mê. Cộng 9 điều).
Tổng số các pháp thanh tịnh hóa THÂN-KHẨU-Ý ĐA PHƯƠNG :
9+12+9=30 điều.
-Một cư sĩ sáng suốt, tu tập TAM THẬP THIỆN, với đời sống vật chất tự hạn chế, đạm bạc trong thực phẩm, đạm bạc trong y phục, đạm bạc trong chỗ ở, và đạm bạc trong thuốc men, (tình nguyện dựa theo pháp không nuông chiều đòi hỏi xác thân), thì ấy là hành giả sống trong THANH TỊNH ĐẠO, trên cả 2 phương diện, cá nhân và xã hội.
Nhân tiện, chúng tôi xin nói về “pháp hành” (Bhàvanà Dhammà) một chút :
-Chữ Pháp trong nhà Phật tuy có khá nhiều ý nghĩa, nhưng đối với đề tài “tu hành thực chất là gì, thì chữ “PHÁP” có nghĩa là “phương pháp” hay “qui tắc”.
-Còn chữ “HÀNH” ám chỉ “tất cả hành vi cử chỉ lành mạnh hằng ngày, hay tạo nghiệp sao cho vô hại, thanh tịnh”, ở ba nơi thân, khẩu ý, trong hiện tại.
-Phương pháp (hay qui tắc) nói đây, không phải là “phát minh” riêng của đức Phật, mà ấy là hoa trái thực nghiệm, mà Ngài đã trải qua, và gặt hái được, trong suốt chiều dài hành thiện và thanh tịnh hướng thượng, tự độ và độ tha, cho chí đến cứu cánh giải thoát.
Pháp hành» là những phương pháp làm lành mạnh mọi sinh hoạt trong con người (hành vi vật chất cũng như tinh thần), được áp dụng đúng đầy đủ, suốt đời sống thường nhật của một bậc tu hành.
Người có pháp hành (hay người tu hành thực sự) không phải là kẻ chỉ nghiên cứu giáo lý Phật đà, rồi đem ra tùy tiện áp dụng cầm chừng, tới đâu hay đến đó. Mà một cách khác, người có pháp hành là kẻ sống đạo, và là người thanh tịnh, tỉnh táo, biết mình đang tích cực đi trên con đường mà Bậc Giác Ngộ (Phật) đã đi, để đến kết quả cuối cùng”.
Người tu hành thực sự cũng không phải là người cố ý tạo nhiều “tiếng thơm” (đạo đức) cho mình (hay cho bất kỳ ai), mà mục đích duy nhất của hành giả, là tạo bình an chung, bắt đầu từ bình an bản thân, thanh tịnh giảm thiểu oan trái, trong sạch môi trường (nội tâm cũng như ngoại cảnh), ít lo buồn sợ giận, để đạt tới phẩm cách hòa đồng, hoàn toàn hỷ xả, chấm dứt mọi oan trái, vướng mắc, giải thoát. Từ đó gây bình an cho người và cho chúng sanh.
Hành giả tu hành thực sự là người luôn luôn noi gương chư Phật, hằng ý thức rất rõ, rằng phẩm cách thoát ly, phải “nở ra” từ trí tuệ thanh tịnh, biết mình phải tích cực làm gì, không lười biếng. Đó là pháp hành của “tuệ giải thoát”.  
-Và “TUỆ GIẢI THOÁT” ấy vốn không liên quan gì đến khả năng tư duy và sự sắc bén phân tích, rồi qui nạp sâu sắc, hay hùng biện, của một số ngưởi, mà đa số tưởng lầm là “trí bác nhã” của bậc “thiện trí thức”
 Kết luận….
Sau khi đã khiêm nhượng trần tình “TU HÀNH THỰC CHẤT LÀ GÌ”, chúng tôi xin nhường phần kết luận lại cho quí vị. -Lý do, vì chúng tôi nghĩ rằng, chỉ có mỗi cá nhân mới có thể biết mình tu hành thực chất là gì.
-Thay vào đó, chúng tôi xin có mấy điều, chân thành bày tỏ, để kết thúc bài trần tình chân thành hôm nay :
-Đề tài “Tu hành thực chất là gì ?” không nênmột câu hỏi đặt ra cho người khác, để xem “đối tượng tu hành thực sự” như thế nào, hay đòi hỏi “đối tượng phải tu hành xứng đáng” ra sao. -Vì như thế, bài trần tình sẽ trở thành thời sự phê phán, phát biểu phù phiếm, gây mích lòng, oan trái, vô ích ! 
Nhưng “đề tài” nầy sẽ rất đắc dụng, nếu mỗi cá nhân thường xuyên dùng tự hỏi lại chính mình, để im lặng tìm câu trả lời, và tình nguyên tích cực tu thân, đúng theo ngụ ý trong lời Phật dạy, hành động hướng thiện.
-Ngoài ra, đề tài “TU HÀNH THỰC CHẤT LÀ GÌ” khi được vô tư chia xẻ và thảo luận một cách thân hữu, trong tinh thần tương kính, cầu tiến, như TRẦN TÌNH ngày hôm nay, thì nó có thể là một cách nhắc nhở, để “điều chỉnh tư duy”, nhất là tư duy chủ quan, vô ý nghĩ lầm là “chỉ có mình mới tu đúng”.  
tTU HÀNH THỰC CHẤT LÀ GÌ ?» khi trở thành câu nói “tự kiểm thảo” như thế, thì nó còn có thể xem là một “thiền ngữ”, làm cho hành giả thường xuyên nhìn lại chính mình, xem thực chất hạnh kiểm nơi chính mình như thế nào, để không dãi đãi, tiếp tục tinh tấn !
Và sau cùng, để biểu lộ niềm tưởng nhớ, sự ngưỡng mộ, lẫn tâm thành cúng dường Đấng Chí Tôn Giải Thoát, chúng tôi thiết nghĩ không gì tốt hơn là thực hành chánh pháp của Ngài. Chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã di ngôn ngụ ý như thế. Và đó cũng là hành động duy trì, phát triển Phật giáo hữu hiệu, lâu dài nhất, -để tỏ lòng tri ân Đức Phật.
Tuệ Lạc
 

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS