Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home

Trần tình số 4.

Trần tình số 4. 

 VESAK-02

«Phật Đản» (Vesakh) lại về trên khắp năm châu. Nhưng đối với người Phật tử Việt xa quê hương, thì ấy là ngày Mừng Phật Đãn nơi đất khách quê người.

 

Hàng năm, như thường lệ năm, webesite tue lac.net, nhân kỷ niệm ngày Đấng Cứu Khổ ra đời, xin bày tỏ quan điểm Phật học của mình, dưới dạng «trần tình» một cách khiêm nhượng, như các lần trước. Năm nay, để cúng dường Phật Đãn 2014, và nhớ đến tổ quốc, chúng tôi xin chân thành đề cập về :

 

«Tha Lực» và «Tự Lực»,

 

Nói ngắn gọn và bình dân, tha lực ám chỉ sức mạnh từ bên ngoài, tức là một sức mạnh của một đối tượng, tha nhân, hay một khung cảnh «thần thánh» nào đó.

 

Còn tự lực ám chỉ sức mạnh tự thân, từ bên trong (của chính cá nhân, hay của bản thân). Điều nầy mới nghe qua, dường như ý nghĩa tự nó đã rõ ràng, không phức tạp, dể hiểu, không cần quan tâm, thắc mắc.

 

Nhưng nếu có ai đặt vần đề, rằng «Cái sức mạnh (trong hay ngoài) ấy tự nhiên mà có», hoặc «nếu không, thì do đâu nó sinh ra, và thường biểu lộ như thế nào ?..... ». Đặt câu hỏi thì phải tìm cách trả lời.

 

 «tính nhanh nhẹn» trong mỗi chúng ta liền mau mắn giải đáp, rằng tha lực thì do thần thánh. Còn tự lực «thì hễ con người còn sống, còn ăn uống và hoạt động bình thường, thì tự nhiên có sức mạnh nội thân». -Sức mạnh đó là tự lực !

 

Câu giải đáp xem ra khá đơn giản. Nhưng nếu chúng ta lại đặt vấn đề nữa, rằng cái «khả năng» của «sức mạnh nội thân», hay «tự lực» kia, có giới hạn hay không, và nó như thế nào ? Phải chăng ấy là một khả năng thực hiện được tất cả nguyện vọng của con người, trong sinh hoạt hằng ngày ?

 

Tiếng Pháp, có châm ngôn «Vouloir c’est pouvoir», tạm dịch «muốn là có thể...», phải chăng cũng đồng nghĩa với câu phát biểu trên (?). Nhưng khi đi vào thực tế, chúng ta thấy khả năng của đa số người, chỉ tùy tiện thực hiện được’ những gì mình muốn, nhiều lắm là 5, hay 6 chục phần trăm (theo cái nhìn lạc quan !). Nghĩa là số còn lại, hơn 30% ý muốn (vouloirs), thường nằm ngoài khả năng của mỗi cá nhân.

 

Do đó, vấn đề «tha lực» từ «bên ngoài»«tự lực» từ «bên trong», để thực hiện chu toàn mọi ý muốn của con người, vẫn còn là một vấn đề rất «bí ẩn», cần phải khám phá. -Ít nhất là khám phá trên phương diện lý thuyết phân tích, mà nhân loại muôn đời không thể không đặt ra.

 

Hơn nữa, hầu như tất cả các tôn giáo xưa nay đều tin có «tha lực», nghĩa là tin vào «sự toàn năng» của Đấng mà họ tôn thờ. Nhiều khi họ còn tin tha lực một cách «chắc chắn», hơn cả tự lực, và coi thường tự lực. Tình trạng nầy từ lâu đã bị phần nhiều giới khoa học tân tiến (nhất là những người duy vật) phê phán, cho là mù qúng, cuồng tín, hay ngu dân.

 

-Còn đạo Phật thì sao ? -Đạo Phật có tin tha lực hay không ? -Với tư cách là những người nghiên cứu và thực hành lời Phật dạy, chúng ta quan niệm như thế nào về cái sức mạnh gọi là «tự lực» và «tha lực» đó ?

 

Vả lại, người Phật tử, khi đứng trước một số hiện tượng cứu khổ kỳ diệu  có thật, chúng ta làm sao không khỏi buộc miệng bảo rằng, «tha lực là một điều không thể phủ nhận». Rồi sau đó chúng ta càng không thể bỏ qua việc tìm hiểu «nội dung» các hiện tượng cứu khổ kỳ diệu ấy, nhất là phải vô tư kiểm chứng, để không nghịch chiều với giáo lý Phật Đà. Sự nghiên cứu còn giúp chúng ta có thể tiếp tục nói được như vậy, mà không cảm thấy mơ hồ. -Không rơi vào tình trạng hiểu biết phát ngôn không đồng nhất !

 

Ngoài ra, người Phật tử cũng không thể quên ba đức tính bi-trí-dũng, xem đó như kim chỉ nam. Và với chữ «trí», chúng ta không thể là kẻ tin càng, hay là người chỉ dựa vào lý thuyết sách vở, thõa mãn óc tranh luận, và biện bác suông. Trái lại, chúng ta, với lòng chân thật, khi phát biểu điều gì, điều ấy phải phát xuất từ tâm thanh tịnh, tri hành thực nghiệm. Và lẽ dĩ nhiên tri hành thực nghiệm ở đây ám chỉ hoa trái, phải được nở ra từ áp dụng giáo lý, có hiệu lực soi sáng, của nhà Phật.

 

Chúng ta thường mạnh dạn nhắc lại nội dung giáo pháp Phật-Đà, rằng :

 

Trong khung cảnh vũ trụ mênh mông :

 

-đã có biến hóa thì phải có chu kỳ,

-đã có xuất động thì phải có phản động,

-đã có hạt gieo và duyên tốt thì phải có cây trái (ngọt hay đắng),

-đã có nghiệp nhân chứa duyên quả, thì trong nghiệp quả có chứa duyên nhân,

-đã có sự sống thì phải có nhân duyên xoay vần của sự sống..v..v….

 

-Nếu HAI phương diện của vấn đề, luôn luôn không thể thiếu MỘT, thì tự lực không thể tách rời tha lực, hay biệt nghiệp không thể tách rời cộng nghiệp.

 

-Cái vũ trụ tương quan cấu kết tạo tác nầy (vốn không do ai làm chủ), nhà Phật còn gọi là vòng luân hồi nghiệp quả, với cái nghĩa trực tiếp lẫn gián tiếp. 

 

Theo Phật giáo, «sự tương quan cấu kết tạo tác» ấy, còn một cái tên khác, là  «vũ trụ duyên khởi», tiếng Phạn (Pàlì) được đức Phật dùng giảng pháp ngày xưa, là «Paticcasamuppàda loka», tạm diễn dịch là «vũ trụ nhân-duyên-quả xoay vòng, tùy thuộc lẫn nhau».

 

«Nhân-duyên-quả xoay vòng, tùy thuộc» ấy, nếu nói khác đi «theo dạng hệ luận», thì hễ có cái nầy thì phải có cái kia, và hễ có cái kia thì phải có cái nầy. Hay ngược lại. Cả hai xác nhận, và phủ nhận lẫn nhau.

 

-Xin mạn phép vào đề :

 

Như trên đã nói, đó là hai phương diện hằng đúng của một vấn đề (nhị biên), thuộc các cõi «tâm vật», dục giới và sắc giới. Nghĩa là, trong cộng nhgiệp tự lực, thì phải có tha lực. Từ ấy suy ra, phủ nhận tha lực tức là phủ nhận tự lực. Nhất là ai dựa trên luật nhân quả cứng ngắc (hình thức), rồi nói rằng «Người nào gieo nhân, thì chỉ người ấy gặt quả». Cho đó là «thực tế công bằng», dựa trên «tự lực»…, thì điều ấy không hoàn toàn chính xác, hay chỉ đúng 50% mà thôi.

 

Vì khi vô tư quan sát một cách sâu sắc, chúng ta thấy rõ, quan niệm nầy chỉ nghiệm đúng ở bề mặt, mà không nghiệm đúng ở chiều sâu. Ngược lại, người mê tín, thiên lệch, chỉ tin vào «tha lực», mà không tin vào «tự lực», thì kẻ ấy chỉ nghiệm đúng theo tính cách TÂM LINH, mà không nghiệm đúng theo thực tại VẬT CHẤT. -Tinh thần trung đạo không thể có ở 1 trong 2 biên kiến nầy !

 

-Cần chi phải đề cao các tính từ, như «thực tế», «hợp lý», «khách quan», hay «ưu thế» để trình bày vấn đề, vì trong Phật giáo, người Phật tử thường cảnh giác, tránh bị cầm tù hay mắc dính vào ngôn ngữ (chế định). Mà một cách «minh sát», chúng ta hãy cố gắng vô tư, ôn lại và đào sâu ý nghĩa của những giáo lý khác của đức Phật.

 

Chúng tôi muốn mời quí vị cùng chúng tôi, đi vào giáo lý KARMA nhân-duyên-quả, nghiệm chứng trên cả hai phương diện biệt nghiệpcộng nghiệp.

 

Nếu bảo rằng, «biệt nghiệp» ám chỉ những gì xảy ra, hướng đến duy nhất cho một người, không liên quan gì đến ai trong xã hội, thì trên thực tế vấn đề đã hoàn toàn thiếu chính xác, vì không ai không có cha mẹ, anh em, gia đình, không ai là cá nhân duy nhất trên đời nầy. Khoan nói đến trong chiều sâu, quan niệm ấy còn thiếu thực tế hơn nữa. -Rằng khi không có một đối tượng (hay đơn vị thứ hai), thì đơn vị thứ nhất không thể tạo nghiệp chúng sinh được.

 

Danh từ «đơn vị», dùng như phương tiện ở đây, có thể là một cá nhân, một gia đình, hay một quốc gia. Mà hễ không có đối tượng chúng sinh, để tạo nghiệp (xấu hay tốt, gồm cả «nghiệp ý»), thì không làm sao có kết quả, để cho chỉ một đơn vị thứ nhất phải nhận ? Như vậy, trong chiều sâu, «Biệt nghiệp» chỉ là một cách diễn tả nôm na, của cái kết quả bị đóng khung, gọi là tự lực.

 

Nghĩa là, nội dung của «giáo lý cộng nghiệp» chính xác và khoa học hơn nhiều. Nó vốn là tình trạng nhân-duyên-quả rất trung thực, bao gồm và đầy đủ nhất. Khi một cộng nghiệp xảy ra, là khi một hoàn cảnh xuất hiện, chung cho một cá nhân lẫn cộng đồng (nhỏ hay lớn), trong đó có thể do một hay nhiều phần tử đã gieo nhân, mà chúng ta gọi là trách nhiệm của một hay nhiều người. Nhưng kết quả luôn luôn liên quan đến toàn thể.

 

Như vậy, kết quả của cộng nghiệp chính là kết quả của nhiều biệt nghiệp hợp lại, «lồng» vào nhau. Duy chỉ có trách nhiệm của một người hay của nhiều người, được xem là «cơ duyên» của giá trị tiến hóa, được tạm ấn định một cách giáo dục «riêng rẽ» và tương đối, để chúng ta tạm gọi là «biệt nghiệp».

 

Nói cách khác, «biệt nghiệp» vốn không hẳn ám chỉ một tình trạng (tốt hay xấu) tách rời, duy nhất của một cá nhân, chẳng dính dáng gì đến ai, hay chẳng liên quan gì đến cảnh giới khác, ngang hàng, cao hơn, hay thấp hơn cõi người (vốn không ngừng biến hóa). -Mà «biệt nghiệp» ám chỉ cái trách nhiệm (nhân duyên cá nhân đối với toàn thể) để mỗi người tự ý thức, rằng việc mình làm sẽ trỗ quả cho mình đã đành, nhưng nó còn ảnh hưởng trực tiếp lẫn gián tiếp đến những gì xung quanh một cách chắc chắn. Nói cách khác, những gì người khác làm, mình cũng sẽ nhận hậu quả trực tiếp hay gián tiếp.

 

hiệu lực của những hoạt động tương quan, xung quanh, mới là «nền tảng» nâng đỡ hạnh phúc «của mỗi cá nhân» trong cuộc sống !

 

Nhưng vì tham-sân-si lôi kéo, con người muốn trốn tránh cái bổn phận tương quan ấy, nên người ta mới cố ý «định nghĩa» hai chữ «biệt nghiệp» một cách tách rời, rằng «việc anh không can gì tới tôi», để che đậy sự vô trách nhiệm của cá nhân trong vòng nhân duyên. -Nghĩa là, cái gọi là «biệt nghiệp» đúng nghĩa, không bao giờ có. Và nếu có, thì ấy chỉ do óc ngụy biện hẹp hòi của một số người ích kỷ, tư duy bị hạn chế, đóng khung.

 

-Đa số nhân sinh vì vô minh mà lẫn lộn, không phân biệt «chính», và «phụ». Nếu họ chỉ quan trọng cái giá trị phụ, coi thường cái giá trị chính, mà hy vọng được tiến hóa, thì thật là ngược đời. Ví như muốn đi tới mà tạo nghiệp thụt lùi !

 

Từ những điều phân tích kể trên, chúng ta có thể tìm thấy «chân lý» của «hiện tượng tha lực» đã thỉnh thoảng xảy ra trong nhân loại. Chẳng hạng như giữa cuộc sống đầy bất trắc hằng ngày, có những cảnh tượng (khổ hoặc vui) bỗng xảy đến, gọi là cho một người, hay cho một nhóm người….

 

Rồi những cá nhân (hay nhóm người) gọi là «ngoại cuộc» cứ dửng dưng nhìn «người trong cuộc» khổ sở, hay vui vẻ kia, như chuyện riêng của họ, không cảm thấy liên quan gì đến ai. Nhưng thực tế vẫn ngược lại. Đến khi tất cả nhận ra ảnh hưởng của cộng nghiệp thực tại, mới phản ứng thì đã muộn. Kết luận rằng mọi hiện tượng đều «lồng trong » cái khung «cộng đồng», từ hai người trở lên.

 

Ngay cả một cá nhân gọi là «cô độc», không thân quyến, không bạn bè, nhưng người ấy ít nhất cũng đã tiếp xúc hay quen biết với một số người khác, cùng cảnh ngộ. Khi một duyên phận (vui hay khổ, hoạn nạn hay hạnh phúc) «xảy ra» một cách bất thường, không bắt nguồn từ nguồn gốc «tự lực» của bản thân người ấy, và mắt thịt không thể xác định được, thì hầu hết liền cho rằng tình trạng đó đến từ một «huyền năng», tha lực.

 

Nhưng như trên đã nói, «tha lực và tự lực không thể tách rời». Luật nghiệp quả trong nhà Phật, nói đại ý rằng «không ai có thể nhận bất cứ cái gì, dù từ một nguồn gốc không hiểu nổi (=tha lực), mà trong hiện tại hay trong quá khứ họ đã không làm» (gieo nhân). Nghĩa là, «Một người không thể nhận cái quả, mà họ không nằm trong vòng luân hồi nhân duyên để nhận, hay không do họ gây ra, ở quá khứ hay ở hiện tại». Để gọi là quả ấy không có sự liên quan !

 

Ngũ căn hay lục căn, (=năm giác quan hay sáu giác quan) của một phàm nhân, theo Phật giáo, vốn vì vô minh, đã mất hẳn khả năng thông thấu các mối tương quan (thuộc các chu kỳ nhân-duyên-quả) của kiếp trước và kiếp nầy, hay giữa cảnh giới nội tâm hiện tại với thế giới trước mặt, nên các giác quan ấy không thể nào «biết được» tha lực là gì. Còn «tự lực» thì tuy thực tại, nhưng các giác quan ấy cũng chỉ giao cảm, hay «biết được» một cách có giới hạn.

 

-Nghĩa là, năm (hay sáu) giác quan, khi đã bị dục vọng đóng khung, biến đổi, luân hồi trong các khối xương thịt, phối hợp vật chất và tinh thần (nhà Phật còn gọi là tập ấm danh sắc hay ngũ uẩn) của kiếp nầy, thì tầm cảm chứng để biết sự thật, của các giác quan ấy (trong cả hai thời quá khứ lẫn hiện tại), vô cùng thu hẹp, nếu không muốn nói là chẳng đáng kể.

 

Các bậc lão thành VN xưa nay đã thường nói «Tự lực tri thiên mạng». «Thiên mạng» ở đây ám chỉ «tha lực». Đối với nhà Phật, đó là «ảnh hưởng» của cộng nghiệp, hay biểu lộ của nhân duyên (khung cảnh trời đất). Nội dung của câu trên phải chăng là «Tự lực trước, sẽ thấy tha lực sau», hay «Có tự lực, thì có tha lực». -Ai không tự lực, mà chỉ trông đợi nơi tha lực, là kẻ chẳng những mê tín dị đoan, mà còn là phần tử thiển cận, lười biếng, vô dụng, đối với chình mình, và đối với xã hội.

 

Người ta cũng đừng lo ngại tự lực không chiêu ứng nổi tha lực, hay tự lực sẽ đơn độc. Vì không bao giờ có đầy đủ cái nầy, mà không có đầy đủ cái kia. Vấn đề còn lại là ta đã tự lực đúng mức chưa, dứt khoát không ? Hay chỉ tự lực lấy lệ, cầm chừng, mà hy vọng tha lực giúp mình hoàn toàn thành tựu.

 

Chuyện may mắn nếu có, là tùy nhân duyên với Bồ-Tát, chứ không phải qui luật. Và nên biết rằng Bồ-Tát luôn luôn đầy bi-trí-dũng. Nhĩa là những nguyện vọng nào có tự lực vững chắc, thì luôn luôn được tha lực đáp ứng, đưa đến thành công.

 

Ví như người đầy can đãm, và thực sự tự lực, dù cho sự tự lực ấy, trong quá khứ và hiện tại, đã «giao thoa» với một số ác duyên, nhất thời tâm trí người tự lực, mang đầy sắc thái tà kiến, nhưng tha lực tương ứng vẫn đến với họ. Bằng chứng là có một số người cuồng tín, đã thực hiện nổi những việc phi thường, kinh thiên động địa. Chỉ khác ở chỗ, tự lực trong tà kiến, khi đùng mức được tha lực hổ trợ, sẽ đưa họ lao mình vào cảnh đen tối, khổ sở,….nhiều hơn là khai thông bế tắc trong thực tại.

 

Đó là những phần tử vì mê si tôn giáo, cuồng tín chủ nghĩa, mà tâm trí mù quáng, đã ôm bôm quyết tử, lao vào đối tượng bất kể, gây ra bao nhiêu thảm cảnh phá hoại sự sống, gieo rắc đổ vỡ thảm khốc, oán thù cho thân nhân, xã hội ở thế giới bên nầy, lẫn cột chặc lắm dây oan trái cho chính «họ» ở cảnh giới bên kia, sau khi chết. Nhưng sức mạnh đã đẩy họ làm bậy như thế, vẫn là tha lực,  đối tượng của niềm tin dù cho không sáng suốt.

 

-Nhưng người tu Phật thì thường xuyên cảnh giác, tuyệt đối tránh xa mọi thứ vô minh cộng nghiệp, để không liên quan đến những tha lực huyền năng đó.

 

Riêng trong lịch sử của những dân tộc bị trị, có nhiều sức mạnh nổi lên đánh đuổi ngoại xâm và tay sai phản quốc, bất nhân, bạo ngược, giành lại độc lập, tự do cho xứ sở. Và sự trả giá bằng tự lực hy sinh, đánh thẳng vào những mục tiêu chuyên chế, bán nước, độc tài, của những nhà lãnh đạo đối lập sáng suốt và dân chúng anh hùng, để được tha lực (hồn thiêng sông núi) tiếp trợ, sau cùng đạt đến mục đích, cũng đã từng xảy ra, không phải là hiếm.

 

Nói tóm lại, tha lực là một sức mạnh hằng có, với điều kiện là tự lực phải đạt đến mức hùng hậu, chỉ tăng cường, chứ không sút giảm, để chiêu cảm, và  «hợp nhất» với tha lực ! Và đó là 2 năng lực vô địch trong cộng nghiệp. Nghĩa là, khi nào còn cộng nghiệp, thì khi ấy tha lực và tự lực còn hiện hữu, như hai mặt của một đồng tiền, có bên nầy thì phải có bên kia, không thể nào khác được.

 

Quay lại «những giai thoại tha lực», trong kinh sách Phật giáo. Không phải chỉ có những câu chuyện dân gian, về những người được chư Bồ-Tát (Bodhisatvàs) giải nạn, mà ngay nơi cổ thư, ghi lại những gì Phật nói lúc sinh tiền, cũng có nhiều đoạn thuật rằng, bậc phạm hạnh (hay thánh nhân), tuy vì dư quả xấu, lưu lai của các kiếp xa xưa, mà hiện tại các Ngài gặp hoạn nạn, nhưng các Ngài vẫn được một tha lực, từ chư thiên (hay long thần hộ pháp) giải cứu…là một chuyện có ghi thật.

 

Đọc những đoạn ấy, chúng ta dù đang sống trong thời đại văn minh khoa học, cơ khí tinh vi, chúng ta vẫn không cảm thấy đó là những chuyện hoang đường. Quí vị chắc cũng chú ý đến các nhóm chữ «bậc phạm hạnh», hay «thánh nhân» nêu trên. Những nhóm chữ nầy ám chỉ hạng người tròn đủ giới đức. Và tròn đủ giới đức là gì, nếu không phải là chứa kết quả của tự lực hay nội lực tròn đầy (sức mạnh bên trong hùng hậu), để dung thông với tha lực (sức mạnh bên ngoài). Do đó, các Ngài luôn luôn được hộ trì, tai qua nạn khỏi…là một điều tự nhiên, không có gì đáng cho là vô căn cứ, hay «mê tín» cả !

 

Nhắc đến hai chữ giới đức (Sìlaguna), chúng ta còn thấy một thực trạng khác. Có giới đức tức là có phúc đức. -Mà có phúc đức trong cộng nghiệp là có một khả năng che chở xung quanh, vô cùng hữu hiệu. -Và sự chênh lệch quá nhiều trong thân phận con người, giữa cuộc đời, đã làm cho một số cá nhân thuộc giai cấp hoàn toàn vô phúc, có cảm tưởng là kẻ thuộc giai cấp cao hơn họ (nhiều phúc đức), dường như có thần thông, hay có tha lực thường xuyên hộ trì.

 

Ví như một người nghèo mạt chỉ muốn có cái ăn cái mặc thôi, cũng đủ vất vả lắm rồi, nói chi đến những ước mong khác. Nhưng một người nhờ kiếp trước tạo nhiều thiện nghiệp, kiếp nầy sinh ra trong cảnh giàu sang, quyền quí, như vua chúa chẳng hạng, thì hầu hết người ấy muốn gì cũng được, giống như tha lực luôn luôn ở bên cạnh họ, để bảo vệ vậy.

 

Trường hợp một người bình thường, chưa phải là thánh nhân, chỉ biết tin vào việc lành và tôn thờ Phật Thánh, mà trong những lúc nguy cấp, họ thành tâm cầu khẩn, thỉnh thoảng cũng được «bề trên» cứu giúp, thì ấy là do nhân duyên họ đã tạo trong kiếp xưa (=tự lực quá khứ), và do tu hành thành tâm trong kiếp nầy (=tự lực hiện tại) Như đã nói ở đoạn trước.

 

Và vì nhân duyên trong cõi ta bà vốn chênh lệch bất đồng, nên không phải người bình thường nào cầu xin tha lực cũng đều được đáp ứng. Và người bình thường, «may mắn» cầu xin được một lần (nhờ khi ấy tâm ý «chí thành»), thì chưa chắc những lần sau người ấy cầu xin, họ cũng toại nguyện.

 

Thực ra, hiện tượng nhờ tha lực giúp cho thành công, vốn tùy thuộc vào mức độ phước duyên kiếp trước và đức hạnh kiếp nầy, hơn là yếu tố «chí thành». Và liên quan tới vấn đề «lòng thành», ai mà không nghĩ rằng «Thần thánh biết rõ tâm tư con người». -Khi gặp nạn, ai cầu khẩn thần thánh, mà tâm tư dám không chí thành ?! -Nói tóm lại, hiện tượng cầu xin khi được khi không, chẳng phải là nền tảng hay lý do, để phủ nhận tha lực !

 

Hơn nữa, những mẫu chuyện tha lực bảo vệ các bậc Phạm Hạnh, Thánh Nhân, hay người lành vừa nêu, hiển nhiên đã rất hợp lý, không vô căn cứ chút nào cả, và đầy đủ giá trị đạo đức nữa. -Không ai có thể dựa vào đó để kết luận rằng, ấy là những chuyện huyền bí, nguyên nhân của mê tín, hay nguồn gốc của mù quáng, trông chờ tha lực hoang đường.

 

Đến đây, để thay đổi khía cạnh suy tư, chúng ta thử bàn qua những «tha lực thấy được» và những «tự lực không bao giờ có», trong đời sống con người.

 

-Hãy nhìn một đứa bé mới chào đời. Nó hoàn toàn bất lực. Xưa nay, chưa có đứa bé nào vừa sinh, đã nói được là «tôi chủ động việc ra đời của tôi». Nhưng khi tất cả những đứa bé đã trưởng thành, thì đa số thường nói rằng «Tôi ra đời do số phận». -Hay theo Phật giáo là «do nhân duyên nghiệp lực luân hồi».

 

Bảo rằng, những đứa bé sơ sinh ấy muốn sống, «thì phải tự lực» là một điều thực tế không bao giờ có. Chúng chỉ sống nhờ «tha lự cộng nghiệpc» mà thôi. Đó là tha lực cha mẹ. Tha lực của nhân duyên cấu kết từ tiền kiếp với tất cả thân nhân ruột thịt gần xa, với xã hội trong kiếp nầy. Nếu không do cộng nghiệp, hay tha lực của cha mẹ thương yêu, nuôi dưỡng, che chở, hay họ hàng đùm bọc, xã hội bao dung, thì chúng đã không thể đầu thai vào lòng mẹ, hay đã chết trong trứng nước, hoặc lúc mới sinh ra.

 

Khi bộ máy nhân-duyên-quả không vận hành cho những đứa bé ra đời, thì chúng đã chẳng bao giờ hiện hữu, nói chi đến chuyện «tự lực» ? Rõ ràng «cộng nghiệp»tha lực chính, làm cho mọi người tái sinh. Rồi cũng vì cộng nghiệp, mà duy trì sự có mặt và bình an tạm thời của con người, cộng với cha mẹ, thân nhân, dân tộc, và nhân loại, trên cõi đời nhiều biến đổi nầy !

 

Thiết tưởng cần nhấn mạnh ở đây, rằng Ý thức cộng nghiệp trong Phật giáo, cũng là nền tảng của các nền văn minh, tìm cách sống chung (civilisation), bắt đầu từ thời ăn lông ở lỗ, vốn luôn luôn bất an ninh. Ai có đầy đủ ý thức nầy, là người biết rõ giá trị cuộc sống, và biết rõ thế nào là tự lực lẫn tha lực. Và trong một chừng mực nào đó, tự lực cũng ám chỉ cái «bổn phận phải làm» cho chính mình, hay ám chỉ cái trách nhiệm của cá nhân, trước đối tượng trong môi trường sống chung, để xứng đáng với tha lực.

 

Từ đó suy ra, tự lực tức là tha lực. Giúp người tức là giúp mình. -Phủ nhận người tức là phủ nhận mình và ngược lại ! Cái «tôi» là trách nhiệm, chứ không phải vô trách nhiệm. «Vô ngã» là im lặng, và vui vẻ hy sinh vì người, chẳng cầu đền bù, chứ «vô ngã» không phải là ca tụng, cổ võ đức tánh ấy, để làm gia tăng «phẩm giá của mình», nhằm thu hoạch sự kính nể của người khác, và ngụy biện «không có cái tôi» để vô trách nhiệm ! 

 

Nhưng trong vận hành tương quan, tha lực trong cộng nghiệp, vốn chính là «sức mạnh phản hồi và kết nối nòng cốt», để tất cả cùng liên đới, thích ứng, đồng thuận với thực tại, nhất là để «hổ trợ lẫn nhau biến hóa tốt». Bộ máy biến hóa không thể gồm một cá nhân duy nhất (biệt nghiệp), mà phải gồm từ hai đơn vị chúng sanh trở lên (cộng nghiệp).

 

Ai sáng suốt, hiểu được pháp cộng nghiệp trong nhà Phật, minh bạch như thế, là người có tinh thần xã hội rất cao. Người ấy nhờ thấm nhuần giáo lý Phật đà, sẽ không bao giờ tách rời cái vui cũng như cái khổ của mình, ra khỏi tình trạng vui khổ chung của gia đình, thân nhân, xã hội, và dân tộc, chúng sanh. Chúng tôi nhiều khi tự hỏi, giáo lý cộng nghiệp trong đạo Phật, phải chăng là nguồn gốc của chủ nghĩa xã hội chân chính. Nó có thể đóng góp hữu hiệu vào sự bình an, quân bình, thịnh vượng cho đời sống loài người ?

 

Nhưng tiếc thay, ngày nay người ta đã lạm dụng thuyết nhân quả, để phát biểu lệch lạc Pháp Phật nói về cộng nghiệp. Tệ hại hơn nữa, người ta còn vô tình dùng «luật nhân quả» một cách cứng ngắc, để  quan trọng hóa bốn chữ tu thân biệt nghiệp, khiến cho các thế hệ sau nầy, càng «tu thân» càng lo cho cái biệt nghiệp không thật «của mình» quá nhiều, một cách ích kỷ.

 

Hiện tượng khai thác tất cả những «mỹ từ», kể cả các mỹ từ mệnh danh tu đắc, của các tông phái đạo Phật đang lưu hành, cũng chứng minh và báo động rằng, người ta đã trôi lăn quá xa và chìm sâu trong bể tham sân si, biệt nghiệp luân hồi, quên mất lẫn không còn thấy ánh sáng cứu độ duy nhất  là PHẬT THỪA.

 

Chúng tôi thiết nghĩ, ngoài ánh sáng cứu độ Phật thừa ấy ra, khó có một ánh sáng không màu*, hay phương pháp nào khác, có thể giúp cho cá nhân, gia đình, dân tộc, lẫn chúng sanh, thoát khỏi tham sân si, hóa giải tình trạng luân hồi, ích kỷ, ngu dân, chậm tiến, khổ đau, lẩn quẩn, và bế tắc !

 

Nhìn về đất nước và xem lại lịch sử, khi Việt Nam có họa bành trướng xâm lăng, mà toàn dân «nguyện cầu» thành tựu cứu nguy tổ quốc, thì tự lực và tha lực phải được hội tụ. Trong hoàn cảnh hiện nay Tự lực là sức mạnh hy sinh của toàn tâm thức Việt hợp lại. Đó là tiềm năng quốc nội. Và tha lực là sức mạnh của nhân duyên hướng thiện, do con dân Việt Nam, đã tha phương gieo rắc trong các dân tộc bạn (tiềm năng hải ngoại), tại những quốc gia, xa hay gần tổ quốc, với tinh thần cộng nghiệp và hy sinh vô vụ lợi. Cả hai yếu tố tự lựctha lực ấy hợp lại, chắc chắn sẽ làm phát sinh một sức mạnh cộng nghiệp vô song, có thể chuyển hóa hoàn cảnh khó khăn, một cách hữu hiệu !

 

***

Nhân ngày Phật Đãn, chúng tôi kính xin chia xẻ đến quí vị một số sưu tầm Phật học, trong tâm tư người con Việt tha phương. Ấy cũng là ưu tư và khích lệ chung. Tất nhiên, công phu học đạo của chúng tôi vẫn còn tiếp tục, cứu cánh giải thoát chưa đạt, thì tư duy không thể hoàn toàn được. Chư độc giả nào có ý kiến bất đồng, thì xin quí vị từ bi soi sáng, niệm tình rộng lượng.

 

Kính chúc toàn thể quí vị mừng lễ Phật Đãn trong thanh tịnh,

mỗi ngày thân tâm mỗi an lành.

 

Cư sĩ Tuệ Lạc (Nguyễn Điều).

Paris 30/04/2014.

___________________________________________________________________________

 

Ghi chú : *Ánh sáng không màu ghi trên ám chỉ Đức Phật. Ngài ví như cây đuốc không màu trong đêm đen. Khi chiếu ra, cây đuốc ấy không áp đặt một màu sắc nào trên vạn vật, kể cả đó là màu sắc Phật Giáo. Không như những cây đuốc khác vốn có màu, khi rọi thì cũng giúp người ta thấy đường để đi vậy, nhưng mọi vật được rọi, đều phải mang màu sắc của cây đuốc ấy, không hiện rõ được bản sắc tự nhiên thật sự của mình.

Mise à jour le Samedi, 03 Mai 2014 18:22  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS