Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home Góp nhặt Phật học Quán «GIỚI PHÂN BIỆT»

Quán «GIỚI PHÂN BIỆT»

Pháp Thoại ngày Chủ Nhật 23/06/2013

tại Viện Phật Học LINH SƠN THẾ GIỚI.

Diễn giả : Tuệ Lạc.



Phần II

Quán «GIỚI PHÂN BIỆT».

Đây là quán thứ 5 trong NGŨ ĐỊNH TÂM QUÁN.

 

Những điểm chính.

 

1/ Tái định nghĩa tổng quát về chữ QUÁN

trong  QUÁN GIỚI PHÂN BIỆT.

-Như trên đã nói, quán là dùng «mắt tâm» để quan sát một cách vô tư (Vipassanà), -Quán không phải là suy xét chủ quan, căn cứ trên những thành kiến, hay những điều đã biết trước, dựa trên thích hợp, không thích hợp, hay cả 2 (vừa thích hợp vừa không thích hợp).

-GIỚI đây là PHÁP GIỚI (Àyatana dhammà).

2/ Vì sao cần QUÁN GIỚI PHÂN BIỆT ?

-Vì con người chấp NGŨ UẨN là NGÃ, là TA. Và CHẤP tức là PHÂN BIỆT

-Do đó, đối tượng tổng quát của QUÁN GIỚI PHÂN BIỆT chính là NGŨ UẨN hay con người, còn gọi là hỗn hợp DANH SẮC. Danh là tinh thần, vô hình. Và sắc là vật chất, hữu hình. Tức là QUAN SÁT CÁI HỖN HỢP phức tạp thấy được, và không thấy được, trong sự sống con người, hay quan sát ngũ uẩn.

3/ Phân tích NGŨ UẨN hay DANH SẮC.

-Ngũ uẩn gồm Sắc uẩn (Rùpa khandha), Thọ uẩn (Vedanà khandha), Tưởng uẩn (Saññà khandha), Hành uẩn (Sankhàra khandha), và Thức uẩn (Viññàna khandha). Sắc ám chỉ chung những vật chất (thô kệch hay tinh vi). Thọ là cảm giác. Tưởng là nhớ đến, phản chiếu những cảm giác lưu lại. Hành là kích thích tạo tác. Thức là biết những điều ấy. Uẩn là tập hợp, chống chất, hay tích tụ.

-Danh Sắc gồm Danh Pháp (Ñàma dhammà) và Sắc Pháp (Rùpa Dhammà).

-Sắc pháp là vật chất cụ thể, như thân xác, hay tứ đại hợp thành, tương đương với sắc uẩn, trong ngũ uẩn.

-Danh pháp là những phần còn lại trong ngũ uẩn (Pañca khandhà), gồm Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn..

Chú ý :

-Thọ uẩn thông thường có thể xem là danh pháp, nhưng trong một chừng mực nào đó, thọ uẩn cũng có thể thuộc về sắc pháp, tùy theo cách nhìn của mỗi người.

-Xin nói về thọ, và cho ví dụ, Chẳng hạng như do ngoại cảnh ảnh hưởng vào thân tâm có thọ. Khi tâm thọ thì cảm giác ấy biểu lộ nơi thân, không biểu lộ chỗ nào khác. Động vật và thực vật đều như vậy.

-Động vật thì dễ hiểu, còn thực vật thì sao ?

-Đối với thực vật, thì thọ rất đơn giản, không phức tạp như các loài cử động được (ám chỉ các hạng thấp sinh, noãn sinh, và thai sinh), đặc biệt là con người. Các loài cử động được biểu lộ những mức độ thọ cảm phức tạp khác nhau, bằng âm thanh và bằng cử động.

-Nhưng đối với thực vật, «thọ» chỉ là phản ứng lý hóa của sự sinh tồn. Khi ta chế nước sôi lên cây lá thì cây lá héo. Khi ta tưới nước mát lên chúng thì chúng tươi. «Thọ» trong thực vật biểu lộ qua hai tình trạng héo,tươi mà thôi.

-Riêng các hàng chư thiên thuộc về hóa sinh, khi gần hết phước thì thọ mới biểu lộ. Lúc ấy tâm linh chư thiên buồn bã nên hào quang ít sáng, mờ đi. Nhưng khi phước chư thiên chưa giảm, thì thọ là hào quang của họ rất sáng. Hào quang là «sắc thân» của chư thiên.

4/ Đi vào chi tiết, thì có bao nhiêu GIỚI PHÂN BIỆT liên quan đến ngũ uẩn để người tu Phật thường quán ?

-Nêu chi tiết thì có 18 GIỚI PHÂN BIỆT để quán, gồm : 6 ngoại trần giới (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp), 6 căn thân giới (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý), và 6 thức giới (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, và ý thức).

-Thứ tự trình bày từng pháp giới một, để thấy nó như thế nào.

Tất cả đều trải quan 4 giai đoạn : Sinh, Trụ, Dị, Diệt.

5/ Quán GIỚI PHÂN BIỆT để chi ?

-Quán GIỚI PHÂN BIỆT để hiểu và hành cho thấy thực pháp VÔ-THƯỜNG, để hết vướng mắc, hết chấp vào cái hiện hữu tạm thờì, và để nhìn ra cái hoàn không trong ngũ uẩn. Nghĩa là QUÁN GIỚI PHÂN BIỆT để xác nhận sự VÔ NGÃ trong mọi «sinh vật».

6/ Tóm lại, trực chứng VÔ THƯỜNG (chứ không phải suy chứng) là pháp phải đạt của QUÁN GIỚI PHÂN BIỆT. Và VÔ THƯỜNG xác nhận sự VÔ NGÃ luân hồi, tức là xác nhận phẩm GIẢI THOÁT, không còn lăn trôi trong ngũ uẩn sinh tử.

7/ Tương quan của QUÁNCHỈ, hay liên hệ giữa quan sátđịnh tâm. Xin nêu 3 thí dụ làm ý  ngụ ngôn: Thứ nhất, ngọn đèn, thứ hai sự di chuyển, và thứ ba ly nước.

-Ngọn đèn nếu không có ống thủy tinh chắn gió, thì nó sẽ chao động, không đứng thẳng. Anh sáng của ngọn lửa lập tức mập mờ, chẳng giúp tốt cho việc quan sát. -Về sự di chuyển, người vừa đi vừa ngó vật gì, thì đối tượng đương nhiên không được họ nhìn thấy chính xác. Trái lại khi người ta đứng yên một chỗ, thì sự quan sát mới có kết quả tốt. –Ly nước cũng vậy, khi để nó yên, trong một chỗ không có gió, thì nước không chao, cáu cặn sẽ lắng xuống đáy ly, nước sẽ trong suốt, và chúng ta quan sát sẽ thấy rõ những gì trong đó.

-Ngoài ra, xin nhấn mạnh, hai pháp hành CHỈ và QUÁN nầy không thể tách rời. Không thể tách rời ở dây có nghĩa là nếu chưa đạt chánh định thì không thể tịnh quán (hay quan sát vô tư) được. Theo tôi, tâm chưa chánh định, thì quán không có kết quả. Tâm «định sát-na» (nếu có ?) vốn không đủ sức để trực nhận vô thường, chặt đức tham sân si phiền não.

-Không CHÁNH ĐỊNH mà QUÁN thì đó là sự quan sát phàm tục, quán một cách qui ước, ngã chấp. Quán dựa trên suy tư, chiêm nghiệm, hay dựa trên chấp kiến. Nói theo ngôn ngữ thẳng thắn, đó là quán vì nghĩ rằng mình «am tường» Phật học, quán theo sở tri chướng.

8-Lưu ý : -Quán (hay dùng «mắt tâm» quan sát) 18 giới nêu trên, để thấy mỗi giới là phù du, VÔ THƯỜNG (Aniccà dhammà) thì hành giả sẽ buông bỏ (XẢ), hết vướng mắc, phá chấp, đắc trí giải thoát.

-Như trên đã nói, không nên quán (quan sát) đối tượng, để thấy đó là thấp hèn, dơ bẩn, gớm ghét, đáng ghê tởm, vì các tư tưởng đó sẽ làm cho hành giả tự ham muốn các hình thức gọi là sạch, cho là mình cao, mình sạch rồi chấp ngã. Trạng thái tâm ghê tởm ấymột dạng của sự sân hận (Patigha), tăng cường vô minh.

 -Đừng quên rằng rằng «Cái người ta thích, người ta vướng vào tâm như thế nào, thì cái người ta ghét, người ta cũng vướng vào tâm như thế ấy. Các biến hành tâm đó rất tinh vi. Mà một khi ác pháp đã vướng vào tâm, thì không thể phá chấp, khó buông bỏ dễ dàng được !

Nhưng giáo lý của đức Phật luôn luôn khế lý khế cơ. Đối với những người chưa đủ trưởng thành, thì đức Phật đã từng dạy họ «quán bất tịnh», tức là «quán tính dơ bẩn», để thấy những cái dơ bẩn mà xa lánh. Đó cũng là một pháp môn hướng dẫn người sơ cơ. Vì những thứ đáng nhờm gớm ấy, không ai muốn gần. Con người vừa đủ trí khôn (khoảng 3, 4  tuổi) thấy dơ là sợ. Nhưng sau đó đạo Phật phải hướng dẫn họ đi vào pháp bình đẳng. Hai ý nghĩa dơ sạch chỉ là 2 khái niệm, chứ không phải 2 chân lý.

-Dĩ nhiên buông bỏ đồ dơ thì rất dễ làm, và hầu hết ai cũng làm được. Hoặc giả nếu vì lý do lợi lộc, muốn giữ đồ dơ lại, thì người ta phải che đậy, cô lập chúng đi, để người ta không trông thấy, không tiếp xúc trực tiếp.

Ví dụ, cầu tiêu tuy ở cách đến ba bốn mươi mét, mà người ta nhìn thấy thì người ta liền nhờm gớm. Nhưng nếu cầu tiêu ấy chỉ ở cách một vách tường (dày tối đa 5 tấc), và vì nó nằm phía căn nhà bên kia, người ta không nhìn thấy, thì ta lại vui vẻ, không nhờm gớm. Người bên này còn bảo rằng, chỗ ấy «sang trọng», sạch sẽ là đàng khác.

Người ta cũng chẳng bao giờ nhờm gớm cái dơ đã qua. Người ta chỉ nhờm gờm cái dơ trước mắt hiện tại. Nếu ngưới ta thực sự biết nhờm gờm cái dơ đã qua, thì con cái chẳng bao giờ dám gần mẹ, vì nghĩ rằng «Tôi hồi trước nằm trong bụng đầy kinh khủng đó của bà».

Bình tâm mà nói, trên đời vật chất hỗn hợp, dơ thành sạch, sạch thành dơ, là một điều tự nhiên. Vật chất vốn chẳng dơ chẳng sạch. Khi hỗn hợp thì chúng biến ra nhiều tình trạng khác nhau như thế. Chỉ vì sự sống cần chúng dưới một dạng thuận hành, gọi là hợp vệ sinh, tránh bệnh hoạn, mà chúng ta tùy tiện, tạm cho là dơ hay sạch..

Ai cũng biết rằng kỹ thuật khoa học ngày nay thừa khả năng lọc nước ống cống thành nước nguyên chất, «sạch hơn» bất cứ loại nước nào đang lưu hành, có thể uống được. Vạn vật khi hội đủ nhân duyên thì biến thể, thay đổi, để kết hợp tiếp tục, hay trở lại nguyên chất. Như vậy, chỉ có quán thấy vô thường, biến hóa thì xác chứng và bao gồm tất cả mọi hiện tượng.

Khi chúng ta nói đến 2 chữ VÔ THƯỜNG (Anicca), hầu hết những người trưởng thành (hay từng trải), mới chứng nhận được. Hai chữ vô thường (ám chỉ sinh lão bệnh tử trong thân) đối với một ngườì già, thì họ có thể hiểu và cảm giác phần nào. Trong khi đó, nếu chúng ta nêu 2 chữ vô thường ấy, với một thiếu niên, thanh niên, hay trung niên, nhất là trong giai cấp trưởng giả, thì hầu hết cũng gật đầu (tỏ ra mình không phải «tối dạ», chậm hiểu), nhưng trên thực tế họ chẳng nắm bắt, hay có cảm giác gì cả. Nhiều khi họ còn mạnh dạn nói rằng «Tôi năm ngoái, tôi năm nay, và tôi năm sau, hay năm sau nữa…vẫn là tôi mà. -Thấy vô thường để khỏi vướng mắc cái gì, và, giải thoát là giải thoát cái gi ? -Từ bỏ sự hưởng thụ là một chuyện ngược đời, một điều ngu xuẩn !?».

Nhưng người tu Phật thì khác. Người tu Phật luôn luôn trung đạo, tuy người tu Phật không đắm chìm trong hưởng thụ, nhưng họ cũng không vì biết lẽ vô thường mà bóp chết sự sống lành mạnh, bình thường của xác thân và tâm thức. Người tu Phật luôn luôn vui vẻtích cực, không viện dẫn bất cứ lý do gì, để thả trôi theo những điều dẫn mình vào nẻo tối, và hành động sao cho thân tâm được bình an, thanh tịnh, nhất là tâm thức hướng đến sự sáng suốt.

Kết kuận :

QUÁN nhân duyênQUÁN giới phân biệt là hai pháp tu, dùng sự khách quan quan sát,  làm cho thân và tâm thanh tịnh, vô tư, thấy rõ pháp VÔ THƯỜNG. Và nếu quán ấy luôn luôn có chánh định làm nội lực để thấy pháp vô thường một cách trực tiếp, thực nghiệm, thì hành giả sẽ xác chứng sự vô thường là một pháp tự nhiên, nếu không muốn nói là pháp cần thiết, trong tam giới có chu kỳ.

Do đó, các hàng tu Phật thấm nhuần giáo lý, không xem tình trạng vô thường là một cái gì đáng buồn, hay đáng ghét. Họ luôn luôn biết rằng, nó vốn là một «pháp phải có» trong các vòng sinh tử luân hồi. «Nó» có hai cái dụng, một mặt nó giúp người tỉnh thức (giác ngộ) buông bỏ, không vướng mắc, hỷ xã, giải thoát. Mặt khác nó là «tạo dịp» cho những ai chưa tiến hóa, có thể tiến hóa. Vì chu kỳ luân hồi cũng chính là «phương tiện» để đi tới !

Cám ơn quí vị đã thanh tịnh lắng nghe. !

Tuệ Lạc

 

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS