Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home Góp nhặt Phật học QUÁN 12 NHÂN DUYÊN

QUÁN 12 NHÂN DUYÊN

Pháp Thoại ngày Chủ Nhật 23/06/2013

tại Viện Phật Học LINH SƠN THẾ GIỚI.

Diễn giả : Tuệ Lạc.



Phần I

 

QUÁN 12 NHÂN DUYÊN.

Đây là quán thứ 4 trong NGŨ ĐỊNH TÂM QUÁN.

(Gồm 1/Quán SỔ TỨC, 2/Quán BẤT TỊNH, 3/Quán TỪ BI,

4/Quán NHÂN DUYÊN, và 5/Quán GIỚI PHÂN BIỆT).

Những điểm chính 

 

 

1-QUÁNQUAN SÁT. Và QUÁN không phải là suy tư, theo kiến thức chủ quan. Nói cách khác, QUÁN ở đây là dùng tâm phối hợp với thân để thực hành pháp môn quan sát, chứ «quán» không phải là dùng tâm suy nghĩ, một cách tư duy, «lý thuyết»

 

2-Quan sát thì phải có đối tượng. Vậy đối tượng của quán nhân duyên là gì ?

 

Phật dạy ĐỐI TƯỢNG đó là THÂN lẫn TÂM.

 

Kinh có câu :

«Ai thấy Pháp thì thấy Phật. Ai thấy Phật thì thấy Pháp»

 

Đi vào pháp môn  niệm thân, trong Tứ Niệm Xứ, chúng ta có thể hiểu :

«Quan sát thấy được chính mình là thấy Pháp».

 

-Đặc tính của Pháp ấy là gì ? Là VÔ THƯỜNG (Aniccà).

 

Chú ý : Khi quan sát (quán) cũng có thể nhận ra một đặc tính khác là «bất tịnh». Nhung trong Phật học phải cẩn thận, rằng «Quán thấy bất tịnh để tâm thanh lọc tham sân si» thì đúng. Nhưng «Quán thấy bất tịnh để tâm ghê tởm, khinh bỉ đối tượng» thì sai. Vì ghê tởm, khinh chê đối tượng là một loại tâm sân. Loại tâm nầy tạo mầm úy kỵ, oan trái, và củng cố BẢN NGÃ (cho rằng mình «sạch») một cách rất tinh vi.

 

Khi «QUÁN» hay quan sát chúng ta không nên căn cứ trên từ ngữ, định nghĩa, vì mắc dính trên từ ngữ, định nghĩa cũng là một thứ cố chấp. Từ ngữ hay định nghĩa theo thế gian vốn chỉ là phương tiện. Vạn pháp tương đối không bao giờ có ý nghĩa cố định.

 

3-Tại sao 12 nhân duyên bắt đầu bằng VÔ MINH ?

 

-Vì VÔ MINHnguyên nhân duy nhất làm cho môt «động tử» luân hồi, khi chết tâm thức bị nối hẳn vào chu kỳ sinh diệt, Phật giáo gọi sự nối ấy là «chuyển kiếp».

 

-Một động tử bên trong có DỤC và VÔ MINH, bên ngoài có trần cảnh để luôn luôn bị kích thích, khao khát, thì ở cuối mỗi chu kỳ sinh diệt, sự tự tìm một chu kỳ sống mới, là điều tự nhiên, không có gì khó hiểu cả. Dụcvô minh có thể xem là hai mặt của một nguồn gốc luân hồi, tái sinh.

 

Ở đây có một «vấn đề» khá sâu sắc dường như nghịch lý, rằng nếu hành giả có khả năng vô tư quan sát được chính mình (đang bị vô minh ảnh hưởng), thì có nghĩa là họ đã bớt hay gần hết vô minh. Ngược lại nếu một ngưòi, tâm hoàn toàn bị vô minh che áng, thì họ không thể nào quan sát, hay quán thấy tình trạng vô minh được.

 

Vô minh ví như nhiều lớp bụi đen, phủ trên đôi tròng mắt. Nếu một người không rửa sạch bụi trần, thì họ không thể dùng mắt phủ đầy bụi quan sát một cách đúng đắn bất cứ vật gì cả.

 

Nhưng sách Phật Học Phổ Thông đã nêu ra, tức là ám chỉ một số hành giả, xuyên qua pháp hành đã vẹt được phần nào màng Vô Minh. Họ có thể tương đối quan sát một phần thực tại nào đó được. Ngược lại, một người nếu tâm tánh còn phủ đầy vô minh, mà tuổi thọ họ chấm dứt, thì tâm thức tối tăm, khao khát kia, chắc chắn phải nối vào một chu kỳ sống khác thối hóa hơn, sa đọa hơn, là một điều không thể tránh được. Nghĩa là, hễ kiếp sống cũ chấm dứt bằng vô minh, thì kiếp sống mới cũng bắt đầu bằng VÔ MINH.

 

VÔ MINH có 2 lai loại, là Vô minh CĂN  Vô minh LẬU

 

a/ VÔ MINH CĂN là tình trạng tâm thức mù mờ, bị dục vọng thúc đẩy, tạo pháp hành lần đầu tiên, và tâm thức trước đó chưa từng trải qua nghiệp quả.

 

b/ VÔ MINH LẬU là tình trạng tâm thức mù mờ, bị dục vọng thúc đẩy, tiếp tục tạo pháp hành, nhưng tâm thức trước đó đã từng tạo tác, và từng trải qua nghiệp quả luân hồi nhiều chu kỳ.  Tóm lại, bất kể khởi đầu bằng vô minh căn hay vô minh lậu, thì gốc vẫn là vô minh.

 

Nhìn chung, tất cả chúng sanh thăng đọa qua vô số chu kỳ luân hồi, đều nằm trong vô minh lậu, nên chúng sanh không thể biết vô minh căn (hay cái nguyên nhân thứ nhất) là gì. Chỉ có Thánh Nhân A-Na-Hàm khi tròn đủ ba-la-mật, mới có thể nhận diện được «vô minh căn» và có thể tiêu trừ, đắc quả A-La-Hán, giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.

 

Trở lại quán 12 NHÂN DUYÊN. Xin nêu :

 

VÔ MINH (Avijjà) dẫn đến hành. HÀNH (Sankhàrà) dẫn đến thức. THỨC (Viññàna) dẫn đến danh sắc. DANH SẮC (Nàmarùpa) dẫn đến lục nhập. LỤC NHẬP (Salàyatana) đẫn đến xúc. XÚC (Phassa) dẫn đến thọ. THỌ (Veadanà) dẫn đến ái. ÁI (Tanhà) dẫn đến thủ. THỦ (Upapadàna) dẫn đến hữu. HỮU (Bhava) dẫn đến tái sinh. TÁI SINH (Jàti) dẫn đến lão, bệnh và TỬ (Marana). (Rồi tử trong tình trạng tinh thần tối tăm, thì tâm thức lại khởi hành vòng luân hồi mới, bằng VÔ MINH. Cứ thế tiếp diễn !).

 

Chúng tôi dùng từ ngữ «dẫn đến» để ám chỉ rằng «lọt trong vòng sinh tử giống như lọt vào đường một chiều vậy». Hễ có bước thứ nhất, thì phải có bước thứ hai, thứ ba…v…v…, tiếp tục không lùi được, rất khó mà giải thoát.

 

Và chỉ có thực hành Bát Chánh Đạo, phá hủy vòng thập nhị nhân duyên theo chiều ngược, tức là «tiêu trừ cái nhân để không có cái quả», thì mới có thể hóa giải, thoát ra nổi con đường phiêu lưu một chiều ấy.

 

Nhưng pháp thoại của chúng ta ngày hôm nay là pháp học, là lý thuyết, không phải là thực hành. Chúng ta chắc chắn không nên lấy cái «hiểu biết» qua pháp học lý thuyết, mà cho là pháp hành cũng tương tự như thế.

 

Vẫn biết bất cứ công phu nào, trước tiên phải dùng lý thuyết để truyền bá, hay chia xẻ, trao đổi….,kể cả chia xẻ phương pháp thực hành. Nhất là lý thuyết ấy phải thực thà, thì người nghe mới có thể một mặt không lẫn lộn lý thuyết với thực hành. Mặt khác đánh giá đúng giá trị quí báu của thực hành.

 

Sau đây là diễn tả 12 NHÂN DUYÊN trên lý thuyết.

 

Khi lâm chung, mà tâm vẫn còn vô minh, bám víu, thèm khác sự sống, thì nhà Phật gọi là «Tử trong VÔ MINH đưa đến HÀNH» (muốn sống nữa).

 

Rồi xuyên qua chập tâm thức cuối cùng (khi chết), tâm vọng tưởng đối tượng, do nghiệp quả nội tại cung cấp, tâm vướng mắc một chiều ấy hòa vàobiết đối tượng, nên gọi là «HÀNH đưa đến THỨC».

 

Thức cấu kết với đối tượng, qua «môi trường tứ đại», dưới dạng tinh thần (ngã) và vật chất, xem đối tượng như «dụng cụ» để tái tạo tác, thì gọi là «THỨC đưa đến DANH SẮC». -Danh sắc tức là NGŨ UẨN. Danh ám chỉ tinh thần (hay 4 uẩn thọ, tưởng, hành, thức). Và sắc (hay sắc uẩn) ám chỉ vật chất, gồm tinh cha trứng mẹ khi thu thai.

 

Danh sắc hay ngũ uẩn phát triển nơi bào thai, tạo ra trung khu thần kinh5 giác quan, để sống và tiếp thu lẫn hấp thụ ngoại trần. Nhà Phật gọi ấy là «DANH SẮC đưa đến LỤC NHẬP», hay danh sắc tạo ra sáu lối ra vào, nối ngoại trần với một cá nhân.

 

Có sáu lối ra vào rồi, thì phải có tiếp xúc, nên Phật giáo gọi là «LỤC NHẬP đưa đến XÚC».

 

Hễ có XÚC thì phải có cảm giác, nên nhà Phật gọi là «XÚC đưa đến THỌ»

 

Rồi «THỌ đưa đến mắc dính, hay ÁI ». Chúng ta cần chú ý chữ «ÁI» gốc dịch từ tiếng Phạn TANHÀ, có nghĩa là mắc dính. Mà mắc dính (tanhà) ở đây có 2 mặt, hợp thì mắc dính, và bất hợp cũng mắc dính. Thương mắc dính đã dành, nhưng ghét cũng mắc dính luôn.

 

Hễ mắc dính thì ấn tượng ăn sâu, bám chặc, không thể tẩy xóa bỏ dễ dàng, nên nhà Phật gọi là «ÁI đưa đến THỦ», tức là nắm giữ, không buông ra.

 

Và khi tâm thức đã không buông nghiệp quả ra, thì nó cho ấy là mạng mạch muôn đời của nó. Nhà Phật nói rằng, ấy là «THỦ đưa đến HỮU», hay tâm thức đã nhận nghiệp quả là tấm «căn cước» và tự khắc đậm lên chính nó.

 

Đã có căn cước nghiệp quả rồi, mà nếu tuổi thọ một kiếp chấm dứt, tức là xác thân hay dụng cụ tạo nghiệp không còn nữa, thì tâm thức đương nhiên phải bị cái căn cước nghiệp quả trong vô minh ấy dẫn đi vào cảnh giới tương ứng. Nhà Phật gọi tiến trình nầy là «HỮU đưa đến SINH» (hay tái hiện với thân mới).

 

Tái hiện hữu hay tái sinh trong một cảnh giới nào đó, thì tiếp theo phải trải qua 4 giai đoạn là sinh, lão bệnh, tử (hay sinh, trụ, dị, diệt). Nhà Phật gọi tiến trình ấy là «SINH đưa đến TỬ».

 

Xin lưu ý, trong suốt vòng luân hồi, từ điểm khởi đầu đến điểm cuối của một kiếp sống, gồm 1-Vô minh, 2-Hành, 3-Thức, 4-Danh sắc, 5-Lục nhập, 6-Xúc, 7-Thọ, 8-Ái, 9-Thủ, 10-Hữu, 11-Sinh, 12-Tử, vô minh luôn luôn có mặt, chỉ khác ở chỗ «điểm thứ nhất» nó để mang cái tên «vô minh», còn các điểm sau, vô minh «ẩn mặt» bên trong, để ảnh hưởng tất cả.

 

Do đó, nếu một người trong đời sống hằng ngày, không tinh tấn tu hành, hay không dập tắt dục vọng để hướng thượng, không làm yếu đi hay phá tan sức mạnh của vô minh, thì người ấy khi chết, vô minh trong họ chắc chắc sẽ rất mạnh, để dẫn tâm thức bắt đầu vòng luân hồi mới, một cách nguy hiểm, sa đọa…..là một điều không thể tránh được !

 

4- Mục đích của quán nhân duyên là gì ?

 

Nói tổng quát, quán nhân duyên là QUAN SÁT những nhân khởiduyên hành tùy thuộc lẫn nhau, của một kiếp người hay của mọi vật. Vạn pháp trong tam giới đều «liên đới», hễ có cái nầy thì phải có cái kia. Hay ngược lại, không có cái nầy thì sẽ không có cái kia……

 

Nhân duyên là công thức triết học cùa «định lý» nhân quả tương quan, hay «hệ luận» của «nhân quả duy trì lẫn nhau». Quan sát nhân duyên là đi vào pháp hành, hóa giải vô minh, để trước tiên thấy rõ tiến trình sinh diệt, mắc dính lẩn quẩn, và lập tức áp dụng pháp xả Phật giáo để đối trị, bằng cách diệt nhân thì sẽ không có quả.

 

Hơn nữa, người tu Phật tinh tấn hành đạo, không quán nhân duyên bên ngoài, mà chỉ quan sát nhân duyên bên trong. Đó là sự thực hành để biết rõ chính mình. Nhất là biết rõ những «sát-na» nhân duyên tâm vật sinh diệt trong nội thân, để trực tiếp kinh nghiệm, đắc chứng chân lý vô thường (-Trực tiếp kinh nghiệm, chứ không phải hiểu biết qua lý thuyết suông !). Tâm hành giả nhờ đó sẽ không vưóng mắc với những cái hợp tan chẳng bền vững, trong bất cứ lúc nào, chứ không nhất thiết chỉ trong giây phút lâm chung.

 

Khi tâm tư không vướng mắc, thì thức uẩn mới thanh tịnh, sáng suốt, giảm thiểu tác ý chật hẹp, bám víu, sa đọa, vào lúc nghiệp quả cận tử đẩy nó vô vòng luân hồi mới.

 

Ở đây quán nhân duyên là một pháp thiền. Người tu Phật nếu vừa giữ giới vừa thực hành pháp thiền nầy, xuyên qua mỗi kiếp, cho đến lúc viên tròn Ba-La-Mật hướng thượng, thì tâm thức hành giả sẽ không bị vô minh nối vào sự tái sinh luân hồi nữa.  Và cứu cánh Niết Bàn chính là tuyệt phẩm hết vô minh, giải thoát đó ! 

 

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS