Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home

Trần tình (3)

  Trần tình (3) :

 

Nhân ngày kỷ niệm Vesakh

(Dương lịch 2013).

 

 

THỰC HÀNH «TRUNG ĐẠO».

 

Kính thưa quí độc giả,

 

Mới đó mà 3 năm trôi qua, website tue lac.net đã được 3 tuổi, góp mặt trong «tủ sách» nghiên cứu giáo lý giải thoát của quí vị. Đó có thể xem như một phần trong Vườn Hoa Phật Học, một vườn hoa tuy luôn luôn đặt nặng nội dung, nhưng không phải vì vậy mà nhóm làm việc thiếu cẩn thận, để cho hình thức của tue lac.net kém «nghiêm chỉnh». -Nhất là phần hình thức đó phải giản dị, trong sáng, thông thoáng, và dễ đọc.

tue lac.net cũng tượng trưng cho tâm nguyện của chúng tôi, một nhóm «Phật tử», muốn báo ơn Đức Phật, thầy tổ, và cha mẹ, chúng sanh, một cách thiết thực, qua học hỏithực hành. Hai chữ «thực hành» chúng tôi nêu ở đây, hoàn toàn không có ý khoe minh hành đạo, mà chỉ có nghĩa là «Học Phật nếu không ứng dụng thì hoàn toàn vô ích, ngoài mục đích áp dụng ra, không có mục đích nào khác». Chúng tôi luôn luôn ghi nhớ điều đó ! 

 

-Nhân ngày Vesakh, lễ Tam Hợp (gồm đãn sinh, thành đạo, và nhập niết bàn của Phật Tổ Thích-Ca Mâu-Ni), nhớ lời Đấng Toàn Giác đã dạy : «Kẻ tưởng nhớ Như lai đúng đắn nhất, là kẻ thực hành đầy đủ giáo pháp giải thoát của Như Lai». -Nghĩa là sự thực hành đóng một vai trò tuyệt đối nòng cốt !

 

Chúng ta đang sống trong một thời đại, mà sự tinh vi của «trí khôn» con người đã đạt đến mức «ấn tượng», làm cho người ta tự mãn, chủ quan, cho rằng, hình thức có thể «phản ảnh nổi» nội dung, hay vật chất có thể «đại diện hẳn» cho tinh thần. Sự hưởng thụ vật chất đang chẳng những chiếm trọn «ưu thế» trong lãnh vực thể xác, mà «nó» còn tỏ ra «bao hết ý nghĩa» của các giá trị tinh thần. -Hiện tại gần như mọi người trong xã hội đều cảm thấy rằng, hạnh phúc đời sống con ngươì chỉ do vật chất quyết định.

 

Và về phía tâm linh hay «tín ngưỡng» cũng vậy. Tôn giáo nào giàu nhất, là tôn giáo «mạnh» nhất. Tôn giáo ấy có thể tung tiền nhiều nhất, để «cứu độ nhân sinh», và «phát triển văn hóa» một cách hữu hiệu nhất. Như câu nói phàm tình sau đây : «Không thực chẳng vực được đạo» !

 

Cũng có những cá nhân đang sống trên nhung lụa, tiền của dồi dào như đất cát, không thiếu bất cứ món gì, nhưng họ vẫn cảm thấy không hạnh phúc. Sự thật đó chỉ là thiểu số. Còn đa số sống trong thường xuyên nghèo khổ, hay tương đối thiếu thốn, chẳng trên phương diện nầy cũng trên phương diện khác, thì họ vẫn xem vật chất, hay tiền bạc là «cứu cánh vạn năng».

 

Vạn năng» vì ngay cả trong các nơi thờ phượng (như chùa chiền, nhà thờ, đền miếu…) sức mạnh của vật chất cũng không vắng mặt. Hãy nhìn các chỗ trung ương tôn nghiêm, hay chánh điện : Thánh tượng càng ăn mặc, sơn son thếp vàng, sang trọng bao nhiêu, thì «thánh tượng» ấy càng tỏ ra «linh thiêng» bấy nhiêu. Tín đồ khắp nơi đổ về dâng lễ, cầu xin, và cúng tiền không ngớt.

 

Vạn năng» vì trong các «cửa quyền» hay cơ quan hành chính (công hay tư) cũng vậy. Bao thư nào «tạ ơn» quan chức, mà «giá trị» càng cao thì kết quả việc yêu cầu, dành cho người đưa bao thư ấy càng nhanh, vượt qua mọi trở ngại «thủ tục» một cách dễ dàng, và về sau hiệu lực của nó cũng rất thu hoạch.

 

Trước tình trạng ấy, sự thực hành giáo lý nhà Phật, hẳn gặp phải một trở ngại rất lớn. Đó là trở ngại làm lệch lạc sự thực hành trung đạo, nhất là làm đổi chiều hai phương diện định hướngthích nghi.

 

-Định hướng ám chỉ niềm tin (giá trị tinh thần), và thích nghi ám chỉ thực tại (giá trị vật chất). Cả hai đòi hỏi một sự thanh tịnh và sáng suốt vượt bực của người tu Phật. Vượt bực làm sao, để hành giả khi đối diện với ảnh hưởng vật chất, vẫn giữ được lối đi hướng thiện, đồng thời không rơi vào những cảnh cạnh tranh, cọ xác, xung đột, cố chấp, bất mãn, hay đóng khung.

 

Và khi quay về với chính mình, người con Phật còn phải có chánh niệm, tránh được sự lầm lẫn giữa hai tình trạng «hiểu thấu» giáo lý và «chứng đắc» giáo lý. Tuy cả hai đều là giá trị tinh thần. Nhưng cái thứ nhất (hiểu thấu) dễ làm, vì được vuốt ve, thõa mãn, đề cao trí thức (cái tôi), và luôn luôn có lòng tham (danh vị) ngấm ngầm hổ trợ. Còn cái thứ hai khó làm, vì hành đạo hướng đến chứng đắc là đi ngược lòng tham, dẹp bỏ bản ngã.

 

Chưa kể khi sự thực hành còn nửa vời, chưa viên mãn, thì phẩm chứng đắc ấy cũng không thể có. -Nói chi đến «kiến thức Phật học» của một cá nhân, dù đã trải qua nhiều năm, gọi là «thâm hậu», mà chỉ có «hiểu biết» trên lý thuyết, chứ chưa áp dụng thuần thục vào bản thân (thực hành), thì cá nhân ấy ví không gì khác hơn, như người đếm tiền giùm cho kẻ khác. Làm việc xong, sờ lại túi mình không đụng một xu, thì ta có thể mua được gi ?  

 

Cho nên không riêng trong nhà Phật, mà giữa dân gian cũng có câu «Pháp học cần thiết phải đi đôi với pháp hành», là như thế !

 

Ngoài ra, TINH THẦN TRUNG ĐẠO cũng giúp cho người tu Phật sáng suốt, tiến bước trên ranh giới của thiện và ác, hay giữa hy vọng và tuyệt vọng. Trung đạo cũng luôn luôn giúp cho hành giả thanh tịnh, cẩn thận, không quên rằng «ranh giới ấy không nhất định, và rất hẹp, như đường tơ kẽ tóc» !

 

Trong cuộc sống, có biết bao nhiêu lần đã xảy ra : Một người rất hiền lành, nhưng trước một nghịch cảnh bất giải, chỉ trong đường tơ kẽ tóc, người ấy có thể biến thành kẻ hung dữ, điên khùng, không thể thụt lùi, phải liều mạng, và hậu quả nguy hiểm ấy, khó ai đo lường được.

 

Do đó, «Pháp trị» duy nhất không thể tạo an vui chung, trong cuộc sống, thiên hẳn về vật chất, mà phải có «Đức trị» mới giữ được thăng bằng.

 

PHÁP TRỊ là nguyên tắc, là kỷ luật áp dụng, là yếu tố tốt cho xã hội tiến bộ. Nhưng coi chừng, chính nguyên tắc và kỷ luật ấy nếu bị lạm dụng bỡi một thế lực bất hảo, thì đó là những điều kiện để cho một người thanh liêm không còn tiếp tục thanh liêm, mà trở thành sâu mọt.

 

Ngược lại, một cá nhân dù hành vi nhất thời tỏ ra xấu đến đâu, nhưng nếu tiếp tục được sống trong môi trường gồm đa số những người đạo đức, pháp trị, thì họ sẽ trở thành một công dân có kỷ luật và biết trách nhiệm.

 

Vã lại, trước sự cạnh tranh không thể tránh được trong sự sống chung, đạo Phật khuyên người yếu thế không nên để tật “tủi thân” làm khổ mình. Vì tủi thân là biểu lộ tinh thần yếu đuối, giận ngầm, thiếu can đãm, đầu hàng. Và người yếu đuối, đầu hàng, thiếu can đãm, thì không thể làm gì được, dù việc nhỏ cho chính mình, khoan nói đến giúp ích cho xã hội.

 

Pháp TRUNG ĐẠO cũng giúp cho một cá nhân hiểu sự tương đối, biết học “tha thứ” và không (hay ít) phàn nàn trước các va chạm, bất công. “Tha thứ” viết trong ngoặc kép không có nghĩa là chấp thuận, mà “tha thứ” có nghĩa là bao dung, cao thượng, thấy rõ “nhị biên” để nghiêm chỉnh cải thiện tình trạng cộng nghiệp, bằng pháp trị đức trị.

 

Kinh Phật nói : Tất cả đều nằm trong pháp vô thường, nh biên, hợp tan. thịnh suy, xoay vần, theo chu kỳ với nhân duyên, điều kiện. Do đó :

 

                                                Hợp rồi sẽ tan,

                                                Tan rồi sẽ hợp

                                                Vui rồi sẽ khổ

                                                Khổ rồi sẽ vui

                                                Đúng rồi sẽ sai

                                                Sai rồi sẽ đúng

                                               Tốt rồi sẽ xấu

                                               Xấu rồi sẽ tốt.

 

Người có trí tuệ thanh tịnhtâm hỷ xả thì sẽ hiểu được dễ dàng ý nghĩa những câu “hoán v” vừa nêu. Và bậc tịnh trí có tinh thần trung đạo, hằng quan niệm rằng, “Những hiện tượng trái ngược nhau thường bổ túc cho nhau”.

 

Như  2 chủ đề trái ngược, là mất còn muôn đời vẫn có 2 triết lý  :

 

-Cái đã mất, chưa chắc là mất luôn.

-Cái đang còn, chưa chắc còn mãi mãi.

 

Mỗi lần phát sinh một ý nghĩ đối phó với vấn đề “mất” hay “còn”, ta không nên để sự hờn giận, cố chấp ngầm thúc đẩy, thực hiện liền, vì có nhiều khả năng nó không hoàn hảo, dù cho ta đã “cân nhắc kỹ”. Lý do, chỉ vì cái được gọi là “cân nhắc kỹ”, thực ra chẳng bao giờ được “cân nhắc kỹ”, với “nội dung” hờn giận.

 

Trong lãnh vực tình cảm cũng vậy, thực hành TRUNG ĐẠO vẫn rất hiệu nghiệm..Người ta nói “Đuổi bắt tình yêu là đuổi bắt cái bóng. Đuổi bắt tiền tài và danh vọng, là đuổi bắt con mèo”. -Cái bóng thì khi ta theo nó, nó lại bỏ ta. Khi ta quay lưng về phía nó, nó chạy sau ta bén gót. -Còn con mèo thì luôn luôn đến với người nào “say mê”, biết vuốt ve, ôm ấp nó nhiều nhất.

 

-Người sống trung đạo có thể d dàng làm kẻ bàng quan trước 2 cảnh đó !

 

-Kết quả, chúng ta thấy giữa cuộc sống thế tục vật chất, chứ không cần so sánh với cộng đồng người tu : Những kẻ hưởng thụ tiền tài, danh vọng..., hiếm kẻ giữ nó được lâu. Và hầu hết những kẻ ấy phả sản rất nhanh.

 

-Còn tình yêu chân thật thì ta không cần đuổi bắt, và ta cũng không cần giữ nó. Vì nó nằm sẵn trong ta, không đến cũng không đi !-Như lòng t bi hng có trong tâm nhng bc chân tu. –Cn chi nói ra, và cn chi ai biết ?

 

Khi cất bước, ta hơi nghiên thân về bên nầy, hay nghiên thân về bên kia, là để ta lấy thăng bằng (trung đạo) đi tới, chứ không phải để thiên về bên nào cả. Trong sự đối xử cũng vậy, thăng bằnglịch sự với cả hai khuynh hướng (đối nghịch hay không dối nghịch) trong xã hội, là để ta được độc lập, chứ không phải để bị lệ thuộc vào 1 trong 2 bên.

 

Cực đoan là một tình trạng tư tưởng nguy hiểm nhất, cho cả bản thân, lẫn cho xã hội. Theo đạo Phật, cực đoan là “nô lệ” vào một cái gì đó. Nhưng người ta không muốn nhìn nhận đó là “nô lệ”. Người ta thích dùng chữ “chấp” hơn, vì như thế người ta sẽ yên tâm, tự gạt được mình, nhờ có cảm giác là mình chỉ “vướng mắc” chút ít thôi, chứ chưa hoàn toàn bị “nô l”, hết phương giải cứu !

 

Cực đoan thì đối lập với công lýbình đẳng. Người cực đoan là người khinh bỉ cuộc sống, trong đó có sự hiện diện của chính họ. -Còn công lý và bình đẳng ch là những cái do con người, vì lòng tham đặt ra, để khỏi khinh bỉ cuộc sống. Nó không bao giờ là sự thật ! Chúng ta nên thay thế hai từ ngữ “công lý” và “bình đẳng” bằng hai từ ngữ khác là xứng đáng và “hợp hoàn cảnh chung” (cộng nghiệp) thì có lẽ tốt hơn.

 

Nhà Phật gọi “xứng đáng” và “hợp hoàn cảnh chung” là thực tại nghiệp quả hay chu kỳ nhân duyên của tất cả con người, trong một xã hội.

 

Liên quan đến công lý và bình đẳng,

chúng ta thử dùng tinh thần trung đạo,

suy gẫm những điều sau đây :

 

Đời sống của mọi thú vật (cộng nghiệp) tùy thuộc vào cái dạ dày. Ai chăm sóc đầy đủ cái dạ dày của thú vật, thì làm chủ được chúng. Vì sao ? Vì thú vật sống chỉ cần thõa mãn cái dạ dày, nhưng không cần thõa mãn khối óc, tri thức.

 

Tuy nhiên, hãy coi chừng, khi con thú bị bỏ đói quá độ, thì nó có thể trở thành vô cùng dả man giết chết người chủ. Huống chi là loài người, vốn trước sau gì cũng đặt nặng rất nhiều sự thõa mãn của khối óc cao hơn thõa mãn cái dạ dày. Do đó, ai dùng sức ép trên dạ dày, để độc tài chuyên chế chỉ huy loài người, thì kẻ ấy sẽ thất bại một cách nguy hiểm ! Gương xấu đáng sợ trong lịch sử loài người vẫn còn đó, không cần nêu tên các đối tượng tàn bạo ấy !!!

 

Ngoài ra, mối nguy hiểm càng tàn phá hơn, là con người vốn cố chấp nặng nề vào xác thân ngũ uẩn là “ngã” nầy. Tất cả các cá nhân, từ cùng đinh cho đến địa vị số một trên thế giới, đều nghĩ là “mình” rất quan trọng. Ai chạm vào cái “rất quan trọng” ấy thì sẽ bị phản ứng mạnh, phản ứng lập tức hay phản ứng về sau.

 

Đức trị” và “Pháp trị” là một cách diễn tả khác, của “Luật Nghiệp Quả”. “Đức trị” và “pháp tri” cũng gọi là “Phương pháp” và “Hiệu lực”. Như vậy, “Luật nghiệp quả” cũng là “Phương pháp” và “Hiệu lực”.

 

Tuy nhiên, khi xét kỹ, chúng ta còn thấy, “Luật nghiệp quả” ám chỉ cái lý do (nhân hữu duyên) và sự kết thành tương ứng. Nhưng khi “phương pháp” và ‘hiệu lực” ấy ám chỉ cái lý do khác (nhân vô duyên) thì sự kết thành sẽ bất tương ứng (hay sai biệt). -Duyên hay điều kiện mới là yếu tố quyết định.

 

Đó là khi “Luật nghiệp quả bị nói lệch là “luật nhân quả” thì nó biến thành “định lý hệ luận”. Còn phương pháphiệu lực hay “Luật nghiệp quả” là một “định lý với rất nhiều hệ luận (Corolaires), hay thông số (Parametre). Người học Phật khi nắm vững “nội dung” nầy thì không ngạc nhiên (hay không hoang mang) trước các tình trạng bất công, “nhân quả không nghiệm đúng” trong thế giới hữu tình.

 

Nhân quả luật, phương cách pháp. Luật mà không pháp là luật chết. Phương pháp mà không luật, là phương pháp sai lầm. Luật (là thực hành, ứng dụng, kinh nghiệm) nên khó (hay không) ra khỏi trung Đạo, nhưng coi chừng, phương pháp (lý thuyết) dễ ra khỏi trung đạo.

 

Ngoài ra, bất cứ sự quá độ nào (trong phương pháp) cũng làm mất (hay giảm) hiệu lực của phương pháp ấy. Khôn quá thì hiệu lực của cái “khôn” bị giảm. Ngu quá thì hiệu lực của cái “ngu” trong cộng đồng cũng ít trầm trọng đi.

 

Từ dó suy ra, quản lý (hay cai trị) tinh vi quá, thì hiệu lực của quản lý (hay cai trị ) cũng bị giảm. Ăn món ngon hay món dở nhiều quá, thì người ta giảm cảm giác, sẽ chán. Một tổ chức bắt hội viên học hành, nhồi sọ nhiều quá, thì hội viên sẽ chán hoạt động. Ngược lại, một tổ chức mà chễnh mãng, không sinh hoạt bình thường, đều đặn, thì kiến thức và kinh nghiệm của hội viên, sẽ hời hợt.

 

- Phương pháp hành động trước tiên là nguyên nhân làm cho chính phương pháp hành động đó bị giảm (hay mất) hiệu lực.

***

Hãy đọc thêm đoạn phát biểu ngắn, có vẻ ngoài đề sau đây,

của một người mà ta cho là đang thách thức cuộc đời,

bng cách thản nhiên sống trên bãi rác.

 

 -Cái thú vị của tôi, là tôi phải nhặt lại tất cả những gì “vô giá trị”, mà người đời khinh thường, vất bỏ. Và cũng tại nơi bãi rác bẩn thỉu nầy, tôi thỉnh thoảng có thể tìm ra những “đồ qúi” hiếm có, cùng những quả tim, và những tinh thần can đãm, lặng lẽ làm việc, đối diện với sự sống khổ cực, nhớp nhúa, để sinh tồn !

 

Rác rến của vật chất là những đồ phế thải, mục nát, hôi hám, tuy khó chịu, nhưng xem ra, chúng còn ít khó chịu hơn rác rến của tinh thần, là những tính nết tham lam, ích kỷ, hèn hạ, nham hiểm, bần tiện, và những tình cảm tối tăm phiêu lưu, ngu muội.

 

Rồi người ấy nói, “Trên thực tế, rác của vật chất có thể tẩy sạch trong vòng năm by ngày, hay vài ba tuần lễ, nhưng rác của tinh thần, thì phải tốn nhiều chục năm chưa chắc đã thanh toán xong. Ấy vậy mà không sao, hãy “trung đạo”, đừng nhìn rác rến bên ngoài, mà nhìn rác rến bên trong tâm ta, chỉ sợ ta chưa “trung đạo”, không nhận ra nó thôi. Nếu nhận ra thì ta muốn tẩy (tu sa) lúc nào chẳng được, do ta quyết định ! -Và l dĩ nhiên, ta cũng “trung đạo”, để tránh hai tình trạng (tu sa) thái quá, là khc nghip và d duôi !” (Ý theo phần đầu kinh Chuyển Pháp Luân).

 

Và đó cũng là phương diện ng x của TINH THẦN TRUNG ĐẠO !

 

Kính chúc toàn thể quí vị một ngày kỷ niệm TAM HỢP đầy ý nghĩa,

và một dịp mừng lễ “Phật Đãn” nhiều an lạc.

 

Tue lac.net

22/03/2013

 

 

(Hình vẽ Thái tử Sĩ Đạt-Ta ra đời tại vườn Lâm Tỳ Ni)

 

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS