Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home Góp nhặt Phật học Tuệ Giải thoát là gì ?

Tuệ Giải thoát là gì ?

  Theo pháp hành

 TUỆ GIẢI THOÁT LÀ GÌ ?

 budhha-v1

 Anh ngữ của Thiền sư WEBU SAYADAW

Tuệ Lạc (NĐ) dịch Việt

 


 

Bạn đã nguyện và giử đúng giới luật. Khi bạn giữ giới nghiêm túc thì những điều mong muốn của bạn sẽ đầy đủ. Giới hạnh sẽ đem lại cho bạn hạnh phúc hiện tại và tương lai.

 

Trong đời sống người Phật tử, ngoài việc hành theo lời Phật dạy, không có gì khác mang đến bình an và hạnh phúc, ở kiếp nầy cũng như kiếp sau, khi còn luân hồi. Toàn bộ Phật giáo, chuyên chở trong Tam Tạng Kinh Điển, chính là những kiến thức giác ngộ. Nhưng kinh điển thì rất nhiều, chúng ta chỉ nên học những «tinh túy» để áp dụng.

 

Tinh túy đó là 37 phẩm bồ đề (hay 37 pháp đưa đến giác ngộ). Tinh túy ấy còn nằm trong Bát Chánh Đạo. Nó cũng ám chỉ Tam Học (Giới, Định, Tuệ), hay con đường duy nhất đưa đến Thánh Quả giải thoát.

 

Tam học (Giới-Đinh-Tuệ) khi thuần thục, thì hành giả chỉ ghi nhớ duy nhất DANH và SẮC, đồng thời định tâm trên cả hai (danh và sắc) như là MỘT. Do đó ý nghiệp không rơi vào ác tư duy. Đây gọi là tâm giới đã phát triển đầy đủ.

 

Khi 2 loại thân giới và tâm giới được thực hành liên tục, thì thần thức hành giả trở nên thanh tịnh, trong sạch, tự tại và an trụ. Đây gọi là tâm định cao thượng (Chánh Định).

 

Nếu sự định tâm ấy được duy trì vững chắc, thì nó trở thành hùng hậu, và sau một thời gian, hành giả sẽ tự biết là trong khi nội tâm đang hành đạo, tâm không thấy cái gì khác, ngoài danh và sắc, nội tâm sẽ chứng thật rằng, vạn vật hằng kết hợp và tan rã theo từng sát-na, trong từng chớp mắt. -Và rằng, thực trạng vô thường lúc nào cũng tiếp tục, không ai có thể ngăn cản được, dù cho đó là người lỗi lạc, chư thiên, hay phạm thiên. Một hành giả khi trực nhận thực trạng trong thân VÔ THƯỜNG như thế, thì gọi là có TRÍ TUỆ.

 

Nói theo ngôn ngữ tại gia, một sự hiển nhiên mà ai cũng biết, là hơi thở hằng vào ra thân người, xuyên qua hai lỗ mũi. Khi hành giả tịnh tâm biết rõ điều đó, và nắm bắt được cái cảm giác từ khi hơi thở «chạm vào» chót mũi, đẩy không khí vào và ra khí quản trong thân (hay toàn thân)……

 

Chót mũi do đó chính là «điểm cảm giác», để hành giả nắm bắt được sự di động của hơi thở (hay gió=khí đại). Hai «thực tế» là chót mũi và di động của hơi thở khi gặp nhau tạo ra tiếp xúc cụ thể. Nhà Phật gọi sự tiếp xúc, sự di động, và sự cảm giác ấy là các pháp hành thuộc về SẮC, còn sự ý thức được cảm giác kia là pháp hành thuộc về DANH. Vì vậy, thiền giả không cần hỏi người khác «danh sắc là gì ?», mà họ sẽ tự biết, khi họ tập trung tinh thần vào hơi thở bất đầu ở chót mũi đi, và đi vào….thân mình ! (Niệm Thân).

 

Nhờ có sự chăm chú khi hít hơi vào và thở hơi ra, mà hành giả còn nắm bắt được trạng thái «cọ xác» của không khí nơi chót mũi vào khí quản và toàn thân, đồng thời ý thức được rằng, sự đến rồi đi, hợp rồi tan (vô thường) của vạn pháp hữu vi cũng giống như thế, nên hành giả không còn vướng mắc, bám víu, ham muốn, hay bất bình một cách mù quáng trong tâm nữa. Khi hành giả không còn dung dưỡng những thứ ấy, thì phiền não tự nó sẽ dập tắt. Thân tâm họ từ đó được bình an.

 

Thực tế mà nói, hành giả vốn không biết pháp gì, trước khi nhận ra sự «va chạm» của không khí ở chót mũi, rồi toàn thân, và họ cũng không biết pháp gì, sau khi sự «va chạm» ấy chấm dứt. Tóm lại, là hành giả chỉ biết «pháp» trong khi sự «va chạm» đang xảy ra mà thôi. Ngôn ngữ nhà thiền gọi đó là «trực nhận cảm giác» hay «biết pháp hiện tại».

 

Như thế, điều mà hành giả phải đạt tớt, là nắm bắt được cảm giác không khí chạm vào lỗ mũi, và vào thân, biết nó tiếp tục vào ra làm sao…. Trong một ngày 24 giờ, nếu thành công như thế, dù chỉ một thời gian ngắn thôi, thường khi đứt quãng, chấm dứt rồi lập lại, thì hành giả cũng khám phá được rằng «sự tu thiền đã tiến bộ, hay có kết quả  tốt nơi thân tâm».

 

Ngược lại, nếu không nắm bắt được cảm giác hơi thở ra vào, «va chạm» đầu tiên ở lỗ mũi, thì sự chứng đắc vạn pháp hợp tan trong ngắn ngủi, sẽ không xảy ra. Điều nầy chứng tỏ sự tu thiền chưa thành tựu, vô hiệu quả.

 

Xa hơn nữa, khi hành giả nắm bắt được cái cảm giác «va chạm» của hơi thở vô và ra đầu tiên ở lỗ mũi, tức là hành giả đang tiến dần đến sự nhận diện danh sắc biến đổi (vô thường = aniccà). Sau đó, hành giả sẽ trực giác biết rằng «Không có cái tôi trong thời này, và cũng không có cái tôi trong thời khác».-Càng không có bản ngã nào trong thân đàn ông lẫn trong thân đàn bà, mà tất cả chỉ là tiến trình hợp tan của danh và sắc !

 

Và nếu hành giả duy trì được sự nắm bắt cảm giác «biết thực tạỉ» trong thiền pháp như thế, thì hành giả sẽ nhận diện rõ hơn DANH cũng như SẮC trong họ (lẫn trong vạn pháp), và chứng đắc pháp cởi bỏ. Cởi bỏ cái gì ? Cỏi bỏ sự trông cậy người khác, nghĩa là hành giả sẽ không cần ai giúp lý thuyết để soi sáng pháp hành.

 

 -Dĩ nhiên là đừng lẫn lộn, nắm bắt nhầm cái gì khác, không phải là cảm giác của hơi thở đang ra vô, thông qua lỗ mũi, thẩm thấu toàn thân, ở giây phút hiện tại.  Đó chính là sự khởi đầu của giác ngộ. -Giác ngộ ở đây ám chỉ sự xác nhận : Cái nầy không phải là ta. Cái kia cũng không phải là ta !

 

Trong sự bắt đầu tiến vào giác ngộ ấy, và ngay giữa khoảnh khắc xác nhận sự vô ngã, tâm hành giả sẽ bừng sáng trong pháp thiền, để họ thanh tịnh đạt tới chánh kiến (Sammàditthi). -Chánh kiến là nhận thức vô tư rằng : Cả cõi đời nói chung, và thân nầy nói riêng…..không có gì khác, mà chỉ là sự hợp tan, biến hóa của danh và sắc. Phật giáo gọi đó là tuệ phân biệt. Và khi tuệ phân biệt được duy trì thuần thục, thì sự bám chặc một cách vi tế vào cái ngã tạm thời (hợp tan), sẽ bị chặt đứt trong tâm, và tuệ giải thoát tự biểu lộ.

 

Mặt khác, dù cho hành giả chỉ đạt được tuệ phân tích trong một thời gian ngắn, hành giả cũng chớ xem thường, coi đó là kết quả nhỏ bé. Vì hiệu lực của nó vốn vô cùng thần diệu.

 

Vã lại, khi tu thiền hành giả đừng đặt công phu của mình quá cao, để nghĩ rằng : Hành thiền nếu không thấy thành tựu thực tế, thì vô ích. –Mà mỗi hành giả chỉ nên nghĩ rằng : Chúng ta tuy không có đại hạnh sinh vào thời đức Phật, để được phúc duyên tu tập đắc đạo nhãn tiền, nhưng chúng ta vẫn còn may mắn, là gặp Phật giáo hiện tại.

 

Hãy quên đi cuộc sống quay cuồng cơm áo hằng ngày, mà tập trung nghị lực, tinh tấn giữ giới và hành thiền, để thanh tịnh và tự tại đạt đến mục tiêu. Thanh tịnh và tự tại đạt đến mục tiêu có nghĩa là chứng đắc kết quả an lạc, mà không mắc dính vào kết quả ấy.

 

Những điều trên đây là tinh túy của pháp thực hành thiền pháp, đúng theo ý nghĩa và nội dung những lời Phật dạy.

 

THẾ NÀO LÀ GIỚI ĐẦY ĐỦ ?

 

Có nhiều hành động tạo phước. Chẳng hạng như dọn quét rác rưới, làm cho ngôi chùa hay nơi thờ Phật sạch sẽ. Chẳng hạng như tưới nước, hay chăm sóc cây Bồ Đề cho xanh tươi. Chẳng hạng như cung cấp mọi vật dụng, để nuôi dưỡng cha mẹ hay thầy tổ. Chẳng hạng như chu toàn đời sống vật chất lành mạnh cho gia đình, chẳng hạng như giúp đỡ người nghèo khó…...

 

 Trong quan niệm của một thiền giả, làm tròn những việc ấy cũng có thể gọi là tròn đủ giới hạnh . Vì sao ? Vì trong khi chăm chỉ thực hiện những phận sự kể trên, một người lơ đảng, không thể làm tốt được. Và nếu không làm tốt, thì người ta trả lời làm sao trước câu hỏi «Phận sự chu toàn ?». Khi phận sự chưa chu toàn, thì một người có cảm thấy mình nhẹ nhàng, hạnh phúc không ? Nếu không nhẹ nhàng hạnh phúc thì làm sao có bình an ? Không có bình an thì làm sao có định tâm. Và sau cùng, không định tâm thì tất nhiên sẽ không làm sao có trí tuệ ![1]

 

Tuệ Lạc mạn phép diễn dịch và trình bày

dựa theo văn bản «The words of Wisdom…»

của Thiền sư Webu SAYADAW (Người Miến Điện)

Ivry sur Seine ngày 29-07-2012.

_______________________________________________

 

Phụ lục vào bản dịch

 

TUỆ GIẢI THOÁT LÀ GÌ ?

 

dựa theo kinh Dhammacakkapavattanasutta :

Chuyển Pháp Luân.

 

Chúng tôi mạn phép chỉ trích ra đoạn kinh

có chứa 5 từ ngữ Pàlì, liên quan đến chữ TUỆ mà thôi :

 

                      “ ............Cakkhuṃ (1) udapàdi,

Nànaṃ (2) udapàdi,

Paññà (3) udapàdi,

Vijjà (4) udapàdi,

        Àloko (5) udapàdi...........”

 

(Pannà viết theo Sanskrit là Prajnà, Tàu âm là Bác Nhã)

Bản diễn dịch 5 thứ TUỆ nói trên :

 

(1) Cakkhum udapàdi = “Tuệ thấy rõ đã phát sinh (ám chỉ Thần nhãn hay Tịnh nhãn, “mắt sáng suốt ” của thiền tâm, Samathacitta).

(2) Nànam udapàdi = “Tuệ biết rõ đã phát sinh (ám chỉ là Bạch Tịnh Thức hay chánh tư duy, Sammàsankappo)

(3) Pannà udapàdi = “Tuệ biết không sai lầm đã  phát sinh (ám chỉ chánh tri kiến, Sammàditthi, hay Phật kiến, tức là Tuệ Giác Ngộ)

(4) Vijjà udapàdi = “Tuệ diệt vô minh đã phát sinh (ám chỉ Thánh minh hay thông tuệ, Amohacitta).

(5) Àloko udapàdi = Tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sinh (ám chỉ Tuệ Niết Bàn, hay Tuệ Xả, Upekkhàcitta, Nibbànacitta, Vô chấp).

 

-Còn chữ Udapàdi có nghĩa là đã phát sinh.

 

Tuệ Lạc tra cứu.

 

 

Diệu Tường và TL ấn tống.

  



[1]/ Chú thích của dịch giả : Trí tuệ là kết quả, chứ không phải phương pháp, nhất là không có cách cách tu thiền gọi là «ThiềnTuệ». Trong tiếng Pàlì, Tuệ Giải tboát gọi là Pannà hay Prajnà,. còn tuệ chưa giải thoát (hay tuệ hành giả,  tuệ phàm) goi là Nàna. Y nghĩa của 2 chữ PANNÀ và NÀNA hoàn toàn khác nhau. -Pannà có nghĩa là «biết pháp với tâm toàn xả (cả 3 thời quá khứ, hiện tại, và vị lai), thông qua tất cả». -Nàna có nghĩa là «biết thực tại, tâm xóa được quá khứ và vi lai, nhưng chưa xả thực tại».         

Mise à jour le Lundi, 13 Août 2012 14:26  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS