Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home

Trần tình (mùa Phật đản 2012)

Namo mamasatthà Sakyamunì Buddhàya

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Trần tình số 2 :

Chánh kiến và trí tuệ

trong tinh thần phục vụ

 

Kính thưa quí độc giả,

 

Đã hơn một năm qua, kể từ mùa Phật Đãn năm ngoái (2011), và để cúng dường Phật Bảo nhân dịp nầy, Website TUỆ LẠC được hân hạnh ra đời, cống hiến Phật học đến qúi vị….

 

Tứ đó, chúng tôi đã không ngừng xem lại các phát biểu của mình, hầu nhận diện những ý kiến có tính cách thiên lệch, biên giới, thiếu cởi mở, hay chủ quan (cố chấp), đi ngược tinh thần đạo Phật. Tuy nhiên, chúng tôi chắc chắn rằng sự hoàn thiện ấy, khó một sớm một chiều đạt được. Chúng tôi kính mong quí vị lượng tình tha thứ cho.

 

Trong bài «trần tình thứ 2» nầy, chúng tôi xin gởi đến quí vị một vài chia xẻ về mục tiêu của tinh thần phục vụ Phật Pháp. Tinh thần phục vụ Phật Pháp được nói ở đây, có nội dung phản ảnh trọn vẹn tâm nguyện làm sao, với khả năng khiêm nhượng của mình, có thể soi sáng nổi những lời Phật dạy, tránh tối đa rơi vào tình trạng huyền bí, không để cho Đạo Phật bị hiểu lầm là một tôn giáo bi quan, sợ khổ, chán đời, bỏ cuộc, chối từ thực tế một cách mù quáng, vô trách nhiệm.

 

Chúng tôi làm việc nầy cũng không phải với mục đích để cho Phật giáo «theo kịp» thời đại văn minh, hay vụ lợi, vì Phật giáo lúc nào cũng hợp thời, tiến bộ một cách thanh tịnh, -mà một cách hoàn toàn khác hẳn, chúng tôi làm việc nầy để trả lại cho Phật giáo cái đặc tính muôn đời tích cực, vị tha của nó. –Người Phật tử vốn tích cực trong lành mạnh, để tạo an vui cho mình, và an vui cho người, không tạo chán nãn cho bất kỳ ai. Kẻ thấm nhuần đạo Phật là người phải triệt tiêu mọi quan niệm hay thái độ tiêu cực, thoái hóa.

 

Như kinh sách nhà Phật ghi rõ, Phật giáo là một tôn giáo lấy chánh kiến (sự sáng suốt) và trí tuệ (hiểu biết xuyên thấu) làm gốc, nên bất cứ quan niệm bỏ cuộc nào của nhân sinh, cũng là ác pháp đối với đạo Phật.

 

CHÁNH KIẾN (hay «thấy đúng») vốn phát nguồn từ đức tính học hỏi vô tư, rồi áp dụng, và rút kinh nghiệm trọn vẹn, nên sự THẤY ĐÚNG tự nó là hiệu lực của tri hành lấy thực tế làm duyên giác. Nghĩa là thực tế như thế nào thì tâm thức người Phật tử nhận ra như thế ấy một cách bình đẳng. Không bị hai tập khí cố chấp thuộc về quá khứ vọng tưởng hướng về tương lai….chi phối.

 

Còn TRÍ TUỆ là tình trạng sáng suốtthanh tịnh, tình trạng không lẫn lộn giữa chủ quankhách quan, giữa hằng phápbiến pháp (vô thường), hay giữa chân đếtục đế, nhất là TRÍ TUỆ ấy không thể lẫn lộn giữa ác thiện, giữa vướng mắc tự do, giữa nhân duyên hậu quả, và sau cùng là giữa kém thế, chịu thua bỏ qua, và ưu thế không vướng mắc, hay toàn xả (vô nhiễm) !

 

Kinh Phật vẫn nói : Chúng sanh sở dĩ triền miên đau khổ, luân hồi trong tam giới, là vì chúng sanh mãi lẫn lộn trong các pháp hành nhị biên, thuận nghịch xoay chiều, giao thoa của hài lòng và bất mãn. Vì vô minh, lẫn lộn mà chúng sanh không biết rõ thực trạng hợp tan, vô thường (nếu không muốn nói là giả dối), cứ bám chặt vào hiện hữu tạm thời, rồi tin chắc rằng mình «thấy biết đúng»«hành động đúng», nên đã không ngừng tạo nghiệp, ràng buộc lẫn nhau, giữa cá nhân và cộng đồng, với vạn vật.

 

Nói cách khác, chúng sanh vì chưa đạt được Như Lai Tánh, chưa tỉnh thức giác ngộ, thiếu hẳn trí tuệ thanh tịnh, nên mỗi khi chúng sanh «cảm thấy» mình hiểu ra điều gì trong Phật giáo, liền lầm tưởng là mình đã đắc tuệ siêu việt, mình đang «sống» với đạo quả.

 

Từ đó, trí thông minh phàm tục, sản phẩm của tư tưởng loài người, thường khi được nâng lên ngang hàng với trí tuệ siêu thoát của Thánh nhân, gây ra bao nhiêu hiểu làm đáng tiếc cho Phẩm Trí Bác Nhã trong nhà Phật ! Đây có lẽ là một trong những nguyên nhân làm cho Phật giáo suy đồi !

 

Trí thông minh phàm tục, tuy trong chừng mực nào đó, có thể dùng như phương tiện để học hỏi, thì nó có thể tích cực, nhưng nó là một con dao 2 luỡi, phía nguy hiểm của nó rất để dàng biến một cá nhân còn tính cố chấp, trở thành tự cao ngã mạng, và mang bệnh sở tri chướng.

 

 Nhưng trí thông minh phàm tục, khi được dùng như một phương tiện để phát triển hướng thiện, thì nó bắt buộc phải được rèn luyện, «đi đôi» với đức tính vô tư. Người học Phật mà vất đi được sự cố chấp, rồi nghiên cứu thực hành và rút kinh nghiệm, thì kết quả mới lành mạnh. Chính đức Phật, trải qua bao nhiêu công phu hành thiện ngày xưa, trước khi đắc đạo Ngài đã làm như thế, nên đạo quả giải thoát mới đạt đến CHÂN THIỆN MỸ !

 

Quay lại thực tế, nền khoa học thực nghiệm ngày nay đang thăng hoa cũng nhờ đã đi trên tiến trình sáng suốt đó. Nhưng một bài học cần nhớ là : Trong khoa học vật chất, khi không may nghiên cứu lệch lạc và áp dụng sai, thì bất quá người ta chỉ mất công và một số tiền (lớn hay nhỏ). Nhưng trong khoa học tâm linh, khi học hỏi giáo lý mà cố chấp và thực hành sai, thì kết quả sẽ «đốt cháy» rất nhiều năng lực tinh thần, tai hại cho tư duy của cá nhân cũng như của xã hội !

 

Vô tư trong Phật học là tiền đề của áp dụng hay thực hành  đúng. Ai vô tư học và hành đúng, người ấy sẽ tìm ra đạo lý giải thoát. Hiệu lực của đạo lý giải thoát ấy có thể điều chỉnh được những gì hiểu lầm qua sách vở, và nó cũng có thể hóa giải được sự phiêu lưu của tập quán «bảo vệ truyền thống», thường gọi là «xưa sao nay vậy».

 

Xin nói thẳng rằng : Nếu «XƯA» mà phản ảnh đúng những gì chư Thánh tổ để lại, thì quá tốt, chẳng có gì đáng bàn cả. Nay chỉ cần cứ thế, mà trân trọng làm theo. Nhưng nếu XƯA bị trải qua bao thăng trầm, lệch lạc, bỡi nhiều lý do khác nhau, trong đó có lý do ngoại xâm tinh vi phá hoại, mà ngày nay chúng ta cứ «trung thành với truyền thống» và đôi khi còn phóng đại nữa, thì quả thật tình trạng  «sai một ly đi một dặm» ấy, sẽ đưa đạo lý giải thoát lạc về đâu ?

 

Dĩ nhiên, chữ «xưa» vừa đề cập trên đây, hoàn toàn không ám chỉ đức Phật, mà có thể ám chỉ bao thế hệ phàm tổ truyền thừa bị phân hóa, và hoàn cảnh xã hội trải qua bao thịnh suy ở những nơi Phật giáo có mặt, kể từ khi đức Phật khuất bóng.

 

Đừng nói là «Ngữ lục» (lời của chư tổ để lại), lắm khi chứa nhiều nội dung cạnh tranh, giữa phàm tổ nầy với phàm tổ khác, mà ngay cả Phật ngôn, lời của đấng Toàn Giác lưu truyền, cũng đã bị thời gian và những thế lực chính trị địa phương lẫn ngoại xâm, đối nghịch Phật giáo, dùng uy thế làm cho xấu đi rất nhiều.

 

Thành thử, cố gắng «soi sáng» những lời Phật dạy, là một điều cần thiết cho tương lai Phật giáo. Chúng tôi thiết nghĩ : Thế hệ tin Phật ngày nay mà luôn luôn tinh tấn tu trì, tìm ra nguyên lý chân đế, để làm việc soi sáng nầy, thì đó là một hành động nhớ ơn Đức Phật và tiền nhân. Các Ngài nếu ở một cảnh giới nào đó mà biết được, chắc chắn các Ngài rất hoan hỷ.

 

Điều đáng trách móc không phải là soi sáng giáo lý đức Phật, mà là cải cách Phật giáo, nhất là cải cách cho hợp với ý muốn thế gian, làm cho đạo đức giải thoát vốn vô cùng tích cực, vị tha, cứu thể, trở thành tiêu cực, bỏ cuộc, phàm tục, suy đồi !

 

Và muốn cho sự SOI SÁNG giáo lý đầy đủ nội dung, hai phẩm cách CHÁNH KIẾN và TRÍ TUỆ cần phải có. Vì có chánh kiến và tri tuệ tức là có BI-TRÍ-DŨNG !

 

-Hay có chánh kiến, có thấy đúng, thì từ bi mới đặt nhằm chỗ. Và có trí tuệ, có sáng suốt, thì cái dũng mới hoàn toàn, không bị chi phối bỡi hoàn cảnh, nhất thời mềm yếu, lạm dụng !

 

Tuệ Lạc

(Mừng Phật Đản 2012).

Mise à jour le Mardi, 10 Juillet 2012 13:49  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS