Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home Bài giảngr trên PALTALK LUÂN HỒI và TÁI SINH

LUÂN HỒI và TÁI SINH

 LUÂN HỒI và TÁI SINH.

Thuyết trình tại Đại học Linh Sơn.
Chúa nhật 24/06/2012.
 
Những điềm chính :
 
Thích nghĩa 2 chữ LUÂN HỒI:
 
                    LUÂN là cái BÁNH XE hay VÒNG XOAY.
                    HỒI là TRỞ LẠI điểm phát xuất.
 
Luân hồi ám chỉ cái CHU KỲ trở lại chỗ cũ, để BẮT ĐẦU.
 
Vòng xoay hay chu kỳ tái diễn ấy, tiếng Phật gọi là SAMSÀRA,
tạm dịch là SINH TỬ ĐỒ hay HỆ TRÌNH TÁI SINH.
 
Chu kỳ ấy có 2 loại là :
 
CHU KỲ THẤY ĐƯỢC và CHU KỲ KHÔNG THẤY ĐƯỢC.
 
Chu kỳ thấy được.- Nằm trong tư tưởng của những người duy vật, vô thần. Họ khẳng định thuyết TỬ GIẲ BIỆT LUẬN (chết là hết). Họ chỉ tin và căn cứ vào những gì thấy được. Chẳng hạng như họ nhìn nhận : Chu kỳ hạt sinh ra cây, cây sinh ra trái, trái sinh ra hạt. Hay chu kỳ xuân đưa đến hạ, hạ đưa đến thu, thu đưa đến đông, rồi đông trở lại xuân. Và chu kỳ khí hậu, thời tiết xoay vần sáng trưa chiều tối. Đối với con người thì họ cho rằng : Chu kỳ sinh lão bệnh tử, chấm dứt một thực tại, thân thể sẽ mục nát ra cát bụi, biến mất.
 
Vì địa cầu chuyển động, nên một ngày kia, đất bằng cũng có thể hóa thành sông, và ngược lại, xem đó như chu kỳ. Nhưng đó là chu kỳ vật chất. Nói chung, mọi sinh hoạt của động vật (hữu tình hay vô tình) dù có tính cách đi về, xoay vần, cuối cùng để chấm dứt. Giữa cái đã tan rã và cái bắt đầu của một con người, không có gì kết nối.
 
Chu kỳ không thấy được, có trong tư tưởng của những người «duy linh hay duy tâm». Họ cho rằng giác quan của con người (hay động vật) vốn rất hạn chế. Nó chỉ «thấy» rất ít. Và những gì giác quan không thể tiếp nhận được thì rất nhiều, rất bí mật và hằng còn. Những cái vượt khỏi giác quan phàm tình ấy gồm các biến hóa tâm thức, liên quan nghiệp báo, và vận hành vũ trụ. Tất cả có thể đến từ một huyền cơ khởi đầu. Nghĩa là một tâm linh thánh thiện, thanh tịnh thì có thể biết được vô số sự thật về huyền cơ, nằm ngoài kiến thức thông thường.
 
Nhà Phật gọi chung những chu kỳ mà giác quan không thể «thấy được» nói trên, là Hệ Đồ LUÂN HỒI TÁI SINH. Và nhà Phật cũng nói rõ nguyên nhân của những chu kỳ luân hồi ấy là THỨC HAM SỐNG.
 
Tuy nhiên, Cả 2 chu kỳ thấy được và không thấy được bằng giác quan phàm tình, vốn lại có chung một số «nguồn gốc», gồm các luật DUYÊN KHỞI, NHÂN QUẢ, VÔ THƯỜNG, và BIẾN HÓA.
 
Ngoài ra, hạng người duy tâm cũng có thể chia làm 2 loại :
1/ Loại tin tâm linh bất diệt, do một đấng toàn năng tạo ra, và
2/ Loại tin tâm linh hằng biến, trôi nổi trong vòng nghiệp quả sinh diệt, có thể do và không do một đấng tạo hóa sinh ra. 
----------
   
Những vấn đề chính 
 
Trong hiện tượng luân hồi và tái sinh
 
Trước khi đề cập đến vấn đề luân hồi và TÁI SINH, chúng ta thử gợi ra những mối quan hệ, vì nó rất cần thiết, chẳng hạn như :
 
A/ Quan hệ NIỀM TIN (duy linh và hữu thần),
B/ Quan hệ NHÂN QUẢ (gồm 2 quan điểm duy vật và duy tâm).
C/ Quan hệ KHOA HỌC (thuyết của Darwin, và các thuyết khác).
 
Những quan hệ nầy cần phải đặc biệt khảo cứu, nếu không, sự hiểu biết về luân hồi tái sinh của chúng ta sẽ phiến diện, và không phản ảnh đúng nội dung luân hồi tái sinh sáng suốt trong nhà Phật.
 
A/ Quan hệ thứ nhất là NIỀM TIN. Trước tiên, thử tìm hiểu ý nghĩa của chữ TÍN, hay TIN TƯỞNG, thường thấy trong lãnh vực tín ngưỡng.
 
-Theo Surakànisutta thuộc (Sam. Nikàya No.55= Tập Bộ Kinh, số 55) thì có 2 loại «niềm tin», là ngu tín, và kiến tín.
 
- NGU TÍN gồm :
1/ TIN vì sùng bái. Trường hợp nầy tuy có hiểu biết chút ít về thần tượng, nhưng vẫn còn mù quáng, như tín đồ tin vị giáo chủ.
2/ TIN vì khiếp sợ. Đó là tình trạng hoàn toàn không hiểu biết gì hết về đối tượng, như dân gian tin thờ ma quỉ, thần lửa, thần nước, thần đất, thần cây, thần núi, thần gió, thần mây, thần sấm sét..v..v…
 
- KIẾN TÍN gồm :
3/ TIN vì được chứng nghiệm nội tâm. Chứng đắc trong pháp tu hành.
4/ TIN vì đã xác nhận thực tế. Như sự tin trong lãnh vực khoa học.
 
B/ Quan hệ thứ hai là lý NHÂN QUẢ. Có 2 nhận xét chính là :
 
-Nhân quả thực tại (trồng hạt nào hái trái ấy, duy vật), và
-Nhân quả luân hồi (duy tâm). Đây là nhân quả do ý nghiệp đóng vai chính. Theo nhà Phật, nhân quả do ý nghiệp sinh ra những chu kỳ, hay kiếp sống nối tiếp.
 
Nói cách khác, ý muốn sống (hay năng lực hiếu động) của tâm tạo nghiệp, cấu kết với duyên hợp vật chất (còn gọi là tứ đại), là nguyên nhân của tất cả sinh hoạt động vật.
 
Vi Diệu Pháp nhà Phật cũng phân tích rõ : Thức ham sống chính là đầu mối của sự luân hồi tái sinh.
 
Như vậy, vấn đề luân hồi tái sinh hoàn toàn không tùy thuộc vào sự tin lý nhân quả, hay nghiệp báo, mà nó chỉ tùy thuộc vào thức ham sống, hay tâm vướng mắc. Hễ có tâm vướng mắc sự sống (dưới bất cứ dạng nào), hướng về những điều kiện phối hợp tâm vật, thì tất nhiên phải có sự luân hồi tái sinh.
 
Từ đó suy ra, không phải vì người ta tin sự luân hồi tái sinh mà kiếp sau mới nhận hậu quả của nghiệp báo do mình đã tạo, hay vì người ta không tin luân hồi tái sinh, mà sau khi chết khỏi trả nợ. Tâm linh con người tuy vô hình, không thể nắm bắt, Nhưng «nó» vẫn liên tục biến hóa theo nghiệp do nó đã tạo. «Nó» vướng mắc vào nghiệp gì, thì nghiệp ấy là «thân sau» của nó. Và luân hồi tái sinh chỉ là nguyên tắc không thể tách rời khỏi tâm vướng mắc trong chính nó. Luật nhân quả vốn là một «biểu hiện» của nguyến tắc đó.
 
Ví như một kẻ bắt buộc phải xa lìa vật gì, mà tâm ý còn vướng mắc, thì kẻ ấy sẽ tự động tìm lại vật tương tự. Nhà Phật gọi ấy là pháp hành của thức tầm nghiệp, hay thức tái nghiệp.
 
Bởi thế, có câu chuyện ngụ ngôn : Một người lênh đênh trên biển cả, đã tập hợp được những vật nổi, làm bè vào đến bờ, nhưng nếu người ấy vẫn luyến tiếc cái bè, thì họ sẽ không buông bỏ, mà vát nó lên vai…..Kết quả, đôi chân sẽ dẫn họ ra biển, để tái lênh đênh trên mặt nước !
 
Trong biển tối sinh tử luân hồi, thân ngũ uẩn nầy có thể ví như cái bè. Nếu hành giả không xả bỏ sắc thân, cứ vướng mắc, thì sau khi chết tâm thức sẽ tìm thân tương ứng khác. Chẳng có gì khó hiểu cả !
 
Những hiện tượng thần đồng, biểu diễn tài năng kỳ lạ, không thể cắt nghĩa bằng logic được, hay một số trẻ con nhớ lại tiền kiếp, xác nhận mình là ai đã chết trước đây, chúng tôi thiết nghĩ không cần phải dùng như lý lẽ, để thuyết phục người vô thần duy vật. Hãy quan sát hiện tượng chính những người ấy, khi về già, thực tế gần cái chết, thì họ sẽ nói ra hay tự động hướng đến tâm linh. Sự thật đó phải chăng là một bằng chứng hùng hồn, biểu lộ bí mật duy thức, ẩn trong sự sống, rất đáng cho tất cả chúng ta suy gẫm ?  Suy gẫm rằng «Ngoài yếu tố tâm lý thông thường, là tham sống sợ chết, còn có yếu tố nào khác ?» -Chúng ta suy gẫm không phải để có luận thế hơn thua, mà suy gẫm chỉ để soi sáng cho chính bản thân từng cá nhân trong cuộc sống nầy.
 
Phật giáo đã từng nói «hạnh phúc hay khổ đau vốn ở cùng một chỗ, và cả hai hạnh phúc lẫn khổ đau đều chỉ là những giai đoạn, có thể gọi là không thực». Vì hạnh phúc có điều kiện của thế gian, tự nó cũng là khổ đau, và khổ đau hữu hạn trong sự sống, tự nó cũng là «hạnh phúc». Câu sau nầy tuy it được ai chịu tin, nhưng chân lý hai mặt của một đồng tiền, bên nầy là mặt trái của bên kia, vẫn quá hiển nhiên, bất di bất dịch, không thể phủ nhận đuợc.
 
Và để có hình ảnh trình bày một cách qui ước hơn, sau đây, chúng tôi xin giới thiệu sơ qua CHU KỲ LUÂN HỒI TÂM THỨC, do chúng tôi mạo muội đúc kết, dựa theo kinh sách Vi Diệu Pháp. Chu kỳ tạm tượng trưng và «bắt đầu» bằng lúc giáp tử, theo bức vẽ chế định sau đây :
cittavithi
 
Sau khi nghiên cứu sâu sắc trong Phật học, chúng ta có thể thấy rằng :
 
Tái sinh tử là mặt nổi của luân hồi.
Luân hồi là mặt nổi của luật nhân quả.
Luật nhân quả là mặt nổi của nghiệp lực.
Nghiệp lực là mặt nổi của pháp hành.
Pháp hành là mặt nổi của tĩnh và động.
Tĩnh và động là mặt nổi của an trụ và vọng tưởng.
An trụ và vọng tưởng là mặt nổi của tứ đại nguyên tố.
Tứ đại nguyên tố là mặt nổi của Tứ đại siêu việt
Tứ đại siêu việt là mặt nổi của toàn xả
Toàn xả là mặt nổi của Đạo giải thoát.
Đạo giải thoát là mặt nổi của Niết Bàn.
 
Từ đó, chúng ta đi đến kết luận :
 
1- Luân hồi tái sinh là hiệu lực hằng có của lý nhân quả.
2- Lý nhân quả là nguyên tắc tự nhiên của pháp hành trong vũ trụ, chứ không do một đấng toàn năng nào đặt ra cả. Nhưng xưa nay người ta vẫn tin và bị kẹt trong 3 kiến chấp tiền định, là do thượng đế, do thiên nhiên, và do nghiệp quả.
 
C/ Quan hệ thứ ba là TIẾN BỘ KHOA HỌC. -Gồm Thuyết tiến hóa hiển nhiên (évolutionisme) của Darwin. -Thuyết vật lý cực vi, gồm các khám phá lượng tử của các nhà bác học. -Và những hiện tượng quá độ vật thể khi huyền biến, thì “trở thành trống không”, phản vật chất.
 
Khoa học xác chứng rằng : Vật chất đơn thuần khi cực vi thì biến mất, hóa ra vô hình (như tinh thần) “phản vật chất”. Còn Phật học nói : “Tinh thần” khi vọng động thì “duyên theo” vật chất đơn thuần cực vi có sẵn, để tạo ra cơ năng sinh hoạt, trong từng nguyên tử vật chất, để tiếp tục vọng động, qua “cấu kết tâm vật”. Từ đó xuất hiện nhuyễn thể, đơn bào, sinh trùng, tế thức. Ngôn ngữ nhà Phật gọi toàn thể liên quan ấy là hệ luân hồi khởi sinh, hay pháp hành (Sankhàradhammà).
 
Từ đó, chúng ta hiểu :
 
1- Pháp hành vũ trụ hay sự quay của hành tinh quả đất là nguồn gốc của không gian và thời gian.
2- Quả đất lăn tròn, thì qủy đạo của nó, hay thời gian và không gian cũng xoay theo đường cong, không thể nào là đường thẳng được.
3- Sinh vật như chúng ta, sống trong một môi trường quay tròn, nên sự phối hợp luân hồi, tái sinh là một điều tự nhiên trong cả 2 lãnh vực vật chất và tâm linh. Như trên đã nói : Không phải vì tin mà CÓ luân hồi, cũng không phải vì không tin mà KHÔNG LUÂN HỒI ! Từ đó, sự sống lấy 365 ngày làm chu kỳ, tạo ra thời tiết thay đổi để quay lại buổi đầu.
4-Lòng tham, Ý muốn (hay thức ham sống) nắm giữ xác thân trong mỗi con người, đã bắt đầu thì phải có chấm dứt, do tiến trình biến hóa (vô thường). Biến hóa để tái diễn. Biến hóa cũng chính là nguyên nhân của tái hiện hữu.
5- Ý muốn tiếp tục sống (hay tham dục) là động cơ của tái sinh.
6- Ý muốn ấy có thể xem là nguyên hành để phối hợp với «bốn nguồn gốc chính», hay TỨ ĐẠI nguyên tố (đất, nước, lửa, và khí) tạo ra vô số chu kỳ nghiệp quả.
 
-Chu kỳ nghiệp quả, hợp rồi tan, quân bình rồi mất quân bình, từ tứ đại nguyên tố, và từ vô thường biến hóa….ngầm tạo ra sinh lão bệnh tử. Và  nếu dựa vào pháp trạng để kê khai, tìm hiểu, thì :
 
-Đệ nhất đại nguyên tố (Pathavì=đất) tượng trưng cho «vật đặc », không xê dịch, như xương thịt, có trạng thái CỨNG và MỀM.
-Đệ nhị đại nguyên tố (Àpo=nước) tượng trưng cho «vật lỏng», luân lưu, như máu, chất loãng, có đặc tính làm KẾT HỢP và làm TAN RÃ.
-Đệ tam đại nguyên tố (Tejo=lửa) tượng trưng cho «vật cháy», hay nóng lạnh, như nhiệt năng trong thân, có đặc tính làm NỞ hay TEO.
-Đệ tứ đại nguyên tố (Vảyo=gió) tượng trưng cho «vật trống» hay không khí, như hơi thở (gió), có đặc tính CHUYỂN ĐỘNG và AN TĨNH.
 
Chỉ có đệ nhất, đệ nhị và đệ tam, hay ĐẤT, NƯỚC, và LỬA, trong tứ đại nguyên tố, thì giác quan động vật có thể «tiếp nhận» được. Nhưng đệ tứ đại nguyên tố là KHÍ, thì giác quan con người không thể tiếp nhận rõ ràng, nếu không muôn nói là chỉ một phần rất hạn chế.
 
Xa hơn nữa, khi cả bốn đại nguyên tố ấy nằm trong tiến trình luân hồi biến hóa, thì giác quan của con người càng bất lực hơn. Nhờ có khoa học vật lý cực vi hay lượng tử mà may ra người ta có thể «nói rằng» : Vật chất tuy đã biến mất, nhưng vẫn tồn tại. Vì biến mất có nghĩa là ở khắp mọi nơi, vô lượng và vô định…..!
 
*Nhưng theo nhà Phật, Tứ Đại Nguyên Tố khi quay về với chân tịnh, thì trở thành Tứ đại siêu việt (hay pháp tánh không). Pháp tánh không còn có nghĩa là vô lượng, hay XẢ (không vướng mắc). «Xả» đây là pháp hành của Tâm Đạo, hay Tâm Niết Bàn, tâm không còn biên giới, không còn vướng mắc ô nhiễm, không còn biến dịch, hay không còn tiếp tục luân hồi nữa.
 
*Chân lý duyên khởi trong nhà Phật cũng đã nói : Cái nầy có thì cái kia có. Cái nầy không, thì cái kia không. Không có cái gì vô căn nguyên mà có thể hiện ra để biến hóa. Cũng không có cái gì đang biến hóa mà trở thành tuyệt không. Tất cả chỉ là biến hóa, thay hình đổi dạng, hợp thì còn, tan thì mất, nhà Phật gọi là Pháp vô thường.
 
Như vậy, trong các cõi luân hồi, pháp vô thường là một pháp cần thiết, nếu không muốn nói là một pháp «lạc quan». -Vì sao ? –Vì nó hằng có để luôn luôn «công bố» sự thật muôn đời, về 2 chiều chuyển động của tiến hóa và thoái hóa, trong dòng tái sinh.
 
Chúng sinh nào đủ khả năng giữ tâm thanh khiết và toàn định, có thể hiểu biết các pháp huyền diệu, sẽ không xem pháp vô thường là một sự khắc nghiệt. Trái lại họ sẽ xem đó là một pháp cần thiết cho sự tiến hóa trong hạnh nguyên của chư Bồ Tát, tự độ và độ tha.
 
Kết luận :
 
Hiểu đúng LUÂN HỒI TÁI SINH, hữu ích gì cho sự sống ?
 
Sự sống mỗi sinh vật là một giai đoạn trong chuỗi luân hồi. Và tam giới tử sinh vốn chứa vô số vòng luân hồi lên xuống. Những vòng luân hồi ấy rất phức tạp, đa dạng, gồm đồng cảnh và bất đồng cảnh, đồng nghiệp lẫn bất đồng nghiệp. Tất cả liên hệ chằng chịt với nhau. Và vì liên hệ chằng chịt và bất đồng ấy, mà sự va chạm không thể tránh được.
 
Đạo Phật nói : Cố chấp chính là nguyên nhân của mọi bất đồng, dẫn đến va chạm, làm mất quân bình tâm thức. Mà khi đã mất quân bình tâm thức, thì con người dễ trở thành thường kiến hay đoạn kiến. Nói chung là biên kiến.
 
Cả đoạn kiến (duy vật tuyệt đối), và thường kiến (duy thần linh), đều làm cho xã hội thường xuyên xung đột. Chỉ có duy tâm dùng đạo đức để tiến hóa, thì cuộc sống mới bình an. Mà muốn duy tâm trong đạo đức tiến hóa, thì con người cần nắm vững và tin tưởng thật pháp luân hồi tái sinh. Vì kiến thức và văn hóa đó sẽ giúp cho xã hội có nếp sống trung đạo, tiến bộ, và thịnh vượng.
 
Người tin vào luật luân hồi tái sinh một cách đúng đắn, sẽ là người luôn luôn sống theo hệ NHÂN DUYÊN QUẢ hướng thiện, biết tôn trọng kỷ luật dân chủ trong xã hội cộng nghiệp. Từ đó, sự công bằng, và tương trợ cũng tự nhiên hiện hữu. Một nền văn minh nhân đạo, đầy tiến bộ sáng tạo, do đó sẽ nở hoa !      
 
Thành kính cám ơn quí vị đã lắng nghe.
 
Thuyết trình viên : TUỆ LẠC (Nguyễn Điều).
______________________________________
   
Phần bổ túc
(Tuệ Lạc biên soạn)
 
SAMSÀRA, tạm dịch là Sinh tử đồ, Hệ trình tái sinh,
hay «bộ máy» luân hồi.
 
Đông từ của nó là «Samsarati» có 2 nghĩa :
1/ Sự chuyển kiếp (transmigration), đổi chỗ ở (để vọng động tiếp).
2/ Luân chuyển (circulation), đi vòng.
 
Từ đó có các từ :
Samsàracakka : Bánh xe luân hồi,
Samsàradukkha : Khổ luân hồi,
Samsàrasàgara : Biển luân hồi,
Samsàrabhaya : Nỗi sợ luân hồi.
 
*Đã có luân hồi thì phải có biến hóa, phải có hợp tan, phải có chu kỳ.
 
Từ đó suy ra :
Luật nhân quả là nguyên tắc của luân hồi.
Lý duyên khởi là nguồn gốc của luân hồi
Sự vô thường là trạng thái của luân hồi.
 
Những cái cùng «CÓ» :
                      Có hợp thì phải có tan = Có tan thì phải có hợp
                       Có sinh thì phải có tử = Có tử thì phải có sinh
                   Có hiện thì phải có biến =  Có biến thì phải có hiện
Tan và biến là TỬ. Hợp và hiện là SINH.
 
Thay chữ «có» bằng chữ «vô» : 
Vô sinh thì vô tử.
 
Viết phương trình 3 đoạn của vòng luân hồi :
Hợp tan = Sinh tử = Hiện biến
Hợp = Hiện = Sinh >< Tan = Biến = Tử.
 
Yếu nghĩa về 2 Sự Thật :
 
SỰ THẬT (Sacca) ngoài VÔ THƯỜNG và
SỰ THẬT (Asatho) trong VÔ THƯỜNG.
 
Sự thật ngoài vô thường thì không có thời gian quá khứ, hiện tại, vị lai.
Sự thật trong vô thường thì bị ảnh hưởng bỡi thời gian. Vì sự thật đó thay đổi luôn luôn. Nó chỉ là sự thật trong hiện tại.
 
HẠNH PHÚC và KHỔ ĐAU.
 
Sống phải chăng là hạnh phúc ?
Chết phải chăng là khổ đau ?
Luân hồi phải chăng là vừa hạnh phúc vừa khổ đau ?
 
Hỏi tiếp và tìm trả lời trong giáo lý nhà Phật :
 
Hạnh phúc và khổ đau thuần túy có thật hay không ?
Cả hai đều không thật, vì trong cái nầy vốn có cái kia.
 
Nghĩa là “Không bao giờ tìm ra chân hạnh phúc”,
 Cũng “Không bao giờ phải có khổ đau mãi mãi”.
 
Do đó, không nên mất công : 
Tìm kiếm hạnh phúc, và mưu tránh khổ đau.
 
Mà việc nên làm là :
Đón nhận cả hạnh phúc lẫn khổ đau một cách thanh tịnh !
 
Hãy nhắc lại luật tương đối trong câu trả lời :
 
Vừa ý phải chăng luôn luôn là hạnh phúc ?
Bất mãn phải chăng luôn luôn là khổ đau ?
 
Xin thưa rằng :
-Tính tương đối luôn luôn có mặt trong vừa ý lẫn bất mãn !
 
Kết luận :
 
Vừa lòng, bất mãn, hiện hữu, biến mất, sinh tử, luân hồi, hạnh phúc, khổ đau, vinh nhục…v.v…tất cả là như vậy, tất cả đều tương đối và không bền vững. Nếu chúng ta biết đón nhận những tình trạng ấy một căch sáng suốt trong bất cứ hiện tại nào, thì tất cả sẽ được thanh tịnh hóa giải.
_________
 

Mise à jour le Mercredi, 27 Juin 2012 20:59  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS