Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home Bài giảngr trên PALTALK BÁT CHÁNH ĐẠO

BÁT CHÁNH ĐẠO

Bồ Đề Phần thứ Bảy

(giảng ngày 14/05/2012)
 

 BÁT CHÁNH ĐẠO

(Atthaṅgika magga).
 
(Bát Chánh Đạo là phần sau cùng của Tứ Diệu Đế, còn gọi là Đạo  Đế.
Và Tứ Diệu Đế là nội dung chính của kinh Chuyển Pháp Luân.
Phật lăn bánh xe pháp lần đầu tiên tại vườn Lộc Giả).
 
Bát Chánh Đạo gồm :
 
-Chánh kiến, hay thấy hiểu chân chánh (Sammādiṭṭhi) 
-Chánh tư duy, hay suy nghĩ chân chánh (Sammā saṅkappo)
-Chánh ngữ, hay nói lời chân chánh (Sammā vācā)
-Chánh nghiệp, hay hành động chân chánh (Sammā kammanto)   
-Chánh mạng, hay nuôi mạng, sống nhờ vật chân chánh (Sammā ājīvo)
-Chánh tinh tấn, hay cố gắng (chân chánh (Sammā vāyāmo)
-Chánh niệm, hay nhớ biết chân chánh (Sammā saṭi), tỉnh thức tự thân.
-Chánh định, hay nhất tâm chân chánh (Sammā samādhi)
 
Kê ra những đơn từ :
 
Chánh, Kiến, Tư, Ngữ, Nghiệp, Mạng, Tấn, Niệm, và Định.
 
Lược nghĩa Hán Việt :
 
CHÁNH là ngay thật, KIẾN là thấy biết, TƯ là riêng nghĩ, NGỮ là lời nói, NGHIỆP là hành động, MẠNG là nuôi sống, TẤN là cố gắng, NIỆM là nhớ biết, ĐỊNH là nhất  tâm, hay tâm an trụ nơi tâm.
 
Sách Khổng Tử cũng nói : «Cách vật. Trí tri. Thành ý. Chánh tâm», tuy nội dung không đầy đủ, nhưng nghĩa lý có thể xem là phần nào tương đương với Bát Chánh Đạo trong Phật Giáo.
 
Diễn giải :
 

Thứ nhất, Thấy Hiểu Chân Chánh 

Hay Chánh kiến. (Sammà ditthi)
 
«Thấy hiểu chân chánh» hay Chánh Kiến ở đây tiếng Phạn gọi là «sammà ditthi». Chữ «sammà» ngoài cái nghĩa là «chân chánh», nó còn có nghĩa như chữ «sabba» là «toàn diện» hay «tất cả». Từ đó chúng ta có chữ Sammà Sambuddha dịch là Phật Toàn Giác.
 
Còn chữ «ditthi» có nghĩa là «thấy biết qua viên mãn thực hành, hay thấy biết qua kinh nghiệm». -Ở đây không ám chỉ thấy biết bằng con mắt thịt, thường khi bị lầm lẫn, hay thấy biết bằng tư duy, thường khi bị thành kiến che mờ, mà thấy biết qua thanh tịnh hành đạo phá chấp. Tiếng Phạn ám chỉ sự thấy biết phàm tình vừa nói, là «passati» hay «passanà».
 
 Do đó, muốn mô tả sự thấy biết và quan sát chân thực, rõ ràng, minh bạch, tiếng Phạn phải đặt tiếp đầu ngữ «VI» phía trước chữ «passati» hay «passanà», thành ra «Vipassati» hay «Vipassanà», để có nghĩa đối lại là «minh sát» hay «minh quán», tức là ngược lại với thấy biết xuyên qua màng vô minh.
 
Chúng tôi phải dài giòng phân tích văn tự với Chánh Kiến (Sammà ditthi) như vậy, là vì nó rất quan trọng. Nói cách khác, Chánh Kiến là nền tảng hướng đến thánh quả, nằm trước các phẩm pháp tiếp theo, là chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định, trên con đường hành đạo thanh tịnh giải thoát.
 
Ngoài đời, khi nói đến «chánh kiến», người ta thường nghĩ ngay đến «quan điểm và lập trường chính trị». Tuy «chánh kiến» trong Phật giáo không ám chỉ chánh trị như ngoài đời, nhưng xét kỹ, chúng ta cũng có thể nhận ra điều tương quan, rằng hễ quan điểm và lập trường chính trị của một nhà nước mà đứng đắn, rõ ràng, thì xã hội toàn dân sẽ tiến hóa, mọi người hưởng được bình đẳng, hoà bình, và no ấm hạnh phúc. Còn ngược lại thì cả nước dần dần đi sâu vào đau khổ, lầm than, thoái hóa.
 
Tương tự như thế, nếu «quan điểm và lập trường», hay tri thức pháp hành của một tôn giáo mà không chánh đáng, không hướng thiện, không trong sạch, không thanh tịnh, không chọc thủng được màng vô minh, chứa đầy tham sân, si, và thành kiến, thì đó là quan điểm và lập trường tà kiến. Pháp hành ấy không thể nào là nấc thang căn bản hữu hiệu, có thể đưa tâm hồn con người tiến lên thánh đạo.
 
Như vậy «quan điểm và lập trường», hay «pháp hành thấy hiểu chân chánh» trong Phật giáo là gì ?» -Xin được nêu ra, đó là :
 
a/Thấy hiểu các pháp hành là vô thường, nhị biên, vui khổ lẫn lộn, liên tục hoán vị nhau, vừa thỏa mãn vừa bất mãn (aniccà, dukadhammà).
b/Thấy hiểu nguyên nhân của các pháp hành là ái dục, hay vọng tưởng, luôn luôn thèm khát cái gì khác, không ngừng nghỉ (taṅhā ).
c/Thấy hiểu sâu sắc có trạng thái hết ái dục là Niết Bàn (Nibbàna).
d/Thấy hiểu Bát Chánh Đạo là mở đầu con đường chấm dứt ái dục (Ariyamagga).
 
Như trên chúng tôi đã nói : Chánh kiến là «nền tảng» của các pháp chánh đạo tiếp theo. Vì không có chánh kiến thì không thể nào có chánh tư duy hay chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định được. Và Chánh kiến trong đạo Phật cũng không phải do học hành, hay tư duy lý thuyết suông mà có. Chánh kiến trong Phật giáo chỉ thật sự có, khi hành giả đã tròn đủ giới định và tuệ.
 
Còn đối với phàm nhân, chánh kiến vốn rất tương đối. Nghĩa là chánh kiến chỉ phản ảnh sự tin tưởng trong một chừng mực nào đó, vào lý nhân quả, và vào ân đức Tam Bảo. Nhưng coi chừng, đức tin đó có thể bi lung lay, khi con người đối diện với một số hoàn cảnh. Chính tôi đã chứng kiến một bạn trước đây ở VN từng là huynh trưởng gia đình Phật tử, đã qui y Tam Bảo và có nhiều năm học hỏi giáo lý Phật đà. Sau khi qua Mỹ, anh lại theo tôn giáo khác, với lý luận «đạo nào cũng dạy người làm lành lánh dử». Thực ta, trong đạo Phật, học pháp không chưa đủ, mà phải có thực hành. Và nếu đã có pháp hành mà chưa tiến hóa chứng đắc, thì đức tin vẫn có thể bị lung lay, do tư duy và điều kiện trong sự sống.
 

Thứ hai, Suy Nghĩ Chân Chánh

hay Chánh Tư Duy (Sammà sankappo).
 
Nhờ có Chánh Kiến mà có Chánh Tư Duy. Nghĩa là khi đã thấy hiểu đúng đắn rồi, thì sự suy nghĩ tự nhiên phải chân chánh. Trên lý lẽ thì như vậy. nhưng trong kinh Phật chúng ta thấy ghi những chi pháp về chánh tư duy như sau :
 
        a/Suy nghĩ thường xuyên về pháp hành xa lìa ái dục
        b/Suy nghĩ thường xuyên về sự tránh làm hại chúng sanh,
        c/Suy nghĩ thường xuyên để giúp kẻ khác xa lìa ái dục
        d/Suy nghĩ thường xuyên về pháp không mắc dính. (XẢ).
 
Vì sao phải dựa trên những chi pháp đó ? Vì rằng chừng nào một hành giả chưa chứng đắc đạo quả giải thoát, thì chừng ấy sự thấy hiểu đúng, hay chánh kiến của hành giả ấy còn tương đối, các lậu hoặc tinh vi, hay chủng tử vô minh vẫn còn trong tâm thức. Nói cách khác là chánh kiến của một hành giả đạt nhất thiền khác với chánh kiến của một hành giả đạt nhị thiền...v..v.., khoan nói đến người chỉ học giáo lý nhà Phật trên lý thuyết mà chưa bao giờ thực hành, thì «chánh kiến» phản ảnh một trạng thái khác !
 
Nhắc lại các chi pháp về chánh tư duy vừa nêu, là :
 
a/Suy nghĩ thường xuyên về pháp hành xa lìa ái dục.
b/Suy nghĩ thường xuyên về sự tránh làm hại chúng sanh.
c/Suy nghĩ thường xuyên để giúp kẻ khác xa lìa ái dục.
d/Suy nghĩ thường xuyên về pháp không mắc dính. (XẢ).
 
Tất cả cho chúng ta thấy rằng “suy nghĩ trong thiện pháp cũng là một pháp hành», hay như trường hợp chúng ta đây «chân thành trao đổi, học hỏi giáo lý giải thoát một cách thanh tịnh và chăm chú nghe pháp cũng là một pháp hành». Vì trong thời gian làm việc ấy, tâm người nghe khắn khít với thiện pháp.
 
Chỉ có khi nào học hỏi Phật giáo để khoe khoang, ngã mạng, ganh tị, tìm cách bắt bẻ hơn thua, tâm chứa đầy tham sân si…khi ấy mới gọi là tri chướng, lý thuyết suông.
 
Đây là lý do mà các thầy tổ chúng ta thường khuyên đệ tử tụng kinh, với điều kiện là vừa tụng vừa chăm chú, để tâm theo dõi ý nghĩa những lời Phật dạy. Và thật là vô ích cho người tụng kinh để chỉ tính bao nhiêu trang, bao nhiêu giờ tụng làm thành tích, mà tâm cứ phóng đi những chuyện lông bông khác.
 

Thứ ba, Lời Nói Chân Chánh

hay Chánh Ngữ (Sammà vàcà).
 
Theo tiến trính của luật tương duyên và tương tác : Hiệu lực của thiện pháp đi trước làm nền tảng cho thiện pháp phát sinh theo sau, cứ thế các pháp hành trợ lực cho nhau. Chính kinh Thập Nhị Nhân Duyên trong Tam Tạng đã chứng tỏ như vậy. Hễ có hành đạo, có Chánh Kiến và Chánh Tư Duy, hay pháp hành nở hoa thấy hiểu đúng và suy nghĩ đúng, thì phải có Chánh Ngữ, hay nói lời chân thật.
 
Ngược lại người chưa hành đạo, chưa tiến vào thanh tịnh, chưa thực sự phục thiện, chưa hướng thượng, chưa thấy hiểu đúng, chưa có Chánh Kiến, và chưa suy nghĩ đúng, chưa có Chánh Tư Duy, thì không thể nào có Chánh Ngữ, hay nói lời chân chánh được, dù cho người ấy có cố gắng nhân danh Phật giáo, dưới bất cứ dạng thức nào.
 
Vì kết quả của công phu tu tập không phải là kết quả của lý thuyết, càng không phải là kết quả của nói nhiều, hay giả cảnh làm người táng dương sự tu hành. Đến đây, chúng ta càng thấy rõ : Chánh Ngữ không gì khác hơn là hoa trái của sinh hoạt từ miệng, khi đã thuần thục với tâm thức lành mạnh bên trong. Tuy nhiên Đức Phật còn «chu toàn» hơn, Ngài đã từ bi hướng dẫn cho phàm nhân mới tu, muốn đạt chánh ngữ phải tránh những ác khẩu dễ mắc phải như sau :
 
a/Không nói dối, không xúi, và không gián tiếp đồng lõa nói dối.
b/Không đâm thọc, không xúi, và không khen ngợi đâm thọc.
c/Không nói thô cộc, không xúi, và không vui thích lời thô cộc.
d/Không nói, không xúi, và không nghe chuyện hoang đường.
 
Và dĩ nhiên khi ác ngữ nơi miệng không còn, thì Chánh Ngữ chính là một yếu tố trong đời sống hằng ngày, giúp cho hành giả phát ra những lời nói chân thật, thanh tịnh, khiêm tốn, và khuyến thiện, gọi là Chánh Ngữ. Những lời nói vô tư cao thượng, hay Chánh Ngữ đó sẽ có tác dụng làm cho nhiều người xung quanh tiến hóa và tạo ra một cuộc sống hòa đồng, bình an, đạo đức.
 
Ngôn ngữ VN có ca dao «Lời nói không mất tiền mua. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau». Hai câu nầy tuy nội dung rất xây dựng, nhưng người ta có thể lạm dụng. Chẳng hạng như 4 chữ sau cùng «cho vừa lòng nhau». Quí vị chắc đã chưa quên trong lịch sử nhân loại, có bao nhiêu nịnh thần đã «lựa lời mà nói cho vừa lòng vua» mà toàn dân phải khốn đốn, bá tánh phải lầm than, nhiều khi thống khổ, lầm than  suốt một thời gian dài !
 
Nhưng cũng có những câu khác, như «trung ngôn nghịch nhĩ»,  «Thuốc đắng đã tật», «Lời thật mích lòng..v.v… » để điều chỉnh ý nghĩa ca dao đó. Nhân chia xẻ về Chánh Ngữ hôm nay, là người tin Phật, tôi xin tình nguyên sửa lại ca dao ấy, rằng «Lời nói không mất tiền mua, Chánh Ngữ vô ngại chẳng vừa lòng nhau».
 
Ngoài ra, cũng xin nhấn mạnh rằng, Chánh Ngữ trong nhà Phật tuy không phải luôn luôn làm vui lòng người nghe, nhưng điều chắc chắn là Chánh Ngữ ấy không làm nổi giận, không gây oan trái, và nhất là không gây cảnh khổ cho những người xung quanh.
 

Thứ tư, Hành Động Chân Chánh

hay Chánh Nghiệp( Sammà kammanto).
 
Chánh nghiệp ở đây ám chỉ hành động hướng thượng, hay hành động thiện cụ thể, thấy được. Riêng chữ NGHIỆP «Kammanto» có nghĩa là tất cả hành vi có tác ý, phần lớn giới hạn do thân, gọi là thân nghiệp. Trong sự sống hiện hữu, chung đụng với ngoại cảnh, thân nghiệp cũng nhiều khi gồm hành vi do thân và khẩu hợp lại. Chắc có người sẽ thắc mắc, đặt câu hỏi : «Khẩu hay miệng là một phần của thân thể, tại sao Phật giáo lại phân ra hai loại là thân nghiệp và khẩu nghiệp làm chi cho lắm chuyện?»
 
-Xin thưa, vì giáo lý nhà Phật rất sâu sắc, nên không thể không thấy rằng «thân khi tạo nghiệp, thì nghiệp chỉ liên quan và làm đối tượng cho nhãn căn (thị giác) và thân căn (xúc giác) mà thôi. Nhưng khẩu khi tạo nghiệp, thì nghiệp lại liên quan và gián tiếp làm đối tượng cho nhiều căn (hay giác quan) khác. Chẳng hạng như khẩu, ngoài việc làm đối tượng cho sự nhìn thấy, nó còn có thể kết hợp với Ý, bàn về sắc đẹp (đối tượng của đôi mắt), bàn về âm thanh (đối tượng của lỗ tai), bàn về mùi hương (đối tượng của lỗ mũi), bàn về vị giác (đối tượng của cái lưỡi), và bàn về cảm xúc (đối tượng của làn da). Sau cùng, khẩu cũng có thể bàn về ấn tượng, khái niệm, hay điều suy nghĩ (đối tượng của tâm thức). Cái khung tạo nghiệp của khẩu rộng hơn nhiều.
 
Từ đó, đứng trên phương diện triết học, chúng ta có thể nói thân nghiệp thì chỉ nằm trong hoạt trường của khẩu nghiệp. Nhưng khẩu nghiệp thì nằm trong cảnh giới ta bà. Cảnh giới nầy tương đương với toàn thể chiêu cảm của ý nghiệp. Phát biểu như vậy, những người không quan tâm đến triết học sẽ có thể chẳng đồng ý, vì họ cho rằng «thân thể bao gồm cái miệng», hay «thân là thành phần nâng đỡ cái miệng». Ở dây, Phật học không dựa trên hình thức, mà dựa trên pháp hành tạo nghiệp. -Nghĩa là nhà Phật phát biểu dựa vào chiều sâu của duy thức. Sự phân chia thân nghiệp và khẩu nghiệp riêng biệt trong Phật giáo, vốn có những lý lẽ của nó.
 
Quay lại các chi pháp họp thành Chánh Nghiệp, chúng ta thấy kinh Phật đã nêu rõ cho người hành đạo tại gia, những điều cơ bản sau đây thuộc về tu thân :
 
                          a/Không sát sinh,
                          b/Không trộm cắp,
                          c/Không tà dâm,
                          d/Không làm khổ chúng sanh.
 
Những nghiệp ác nầy khi đã hoàn toàn chấm dứt nơi một hành giả, thì thân nghiệp hành giả sẽ trở thành thuần thục trong việc cứu vớt sinh mạng, thuần thục trong việc bố thí (chia xẻ lợi lộc), thuần thục trong việc khắc phục tình dục, và thuần thục trong việc đối xử bình đẳng với tất cả chúng sinh nói chung, và loài người nói riêng. Khi đó Chánh Nghiệp (hay hành động đúng theo thiện pháp) sẽ là nhân tố chắc chắn, để cho pháp thứ năm trong Bát Chánh Đạo, là Chánh Mạng được thực hiện và duy trì toàn vẹn.
 

Thứ năm, Nuôi Mạng Chân Chánh 

 Hay Chánh Mạng (Sammà Àjìvo).
 
Chánh mạng ám chỉ phương tiện thanh tịnh, lành mạnh, để duy trì sự sống. Phương tiện thanh tịnh nuôi mạng ấy, căn bản gồm 4 thứ, là thực phẩm, quần áo, nhà cửa, và thuốc men khi đau ốm. Nói rộng ra, Chánh Mạng là những cách thức để đạt được các vật dụng kể trên, mà không tạo khổ ra xung quanh, không gây oan trái, đồng thời không biến tâm thức chính mình trở thành bất thiện, chật hẹp, sa đọa.
 
Sự chân chánh trong pháp nuôi mạng ở đây vốn cũng phát nguồn từ những tính chân chánh trong các pháp đi trước, như Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, và chánh Nghiệp. Chính sự tưong duyên tương tác giữa các Pháp Chánh Đạo ấy, mới hội tụ thành Thánh Quả.
 
Nói tổng quát là như vậy, nhưng kinh sách nhà Phật cũng ghi rõ những cách thức cụ thể căn bản, để tránh ác nghiệp. Vì bất cứ ác nghiệp nào cũng có thể phá hỏng con đường Bát Chánh. Những cách thức căn bẳn dành cho hang tu Phật tại gia sống đúng chánh mạng là :
 
a/Không tà kiến, không dùng mê tín thần linh để nuôi mạng,
b/Không buôn độc dược, võ khí, chất say, cá độ, cờ bạc để nuôi mạng,
c/Không nịnh bợ, xem bói, dị đoan, làm mai, bày mưu đánh trận, làm thầy kiện, làm ma cô, chứa điếm, tổ chức sòng bạc để nuôi mạng,
d/Không làm và không khuyến khích chăn nuôi thú vật, cung cấp thị  trường, hay cung cấp các lò sát sinh, để nuôi mạng.
 
Khi các ác nghiệp để duy trì sinh mạng ấy đã hoàn toàn dứt trừ, thì mạch sống của hành giả nơi thân cũng như nơi tâm, sẽ trong sạch thanh tịnh, năng lượng của tinh thần sẽ sung mãn, để tâm thức hành giả đủ tự lực, sáng suốt an trụ nơi chính nó, đồng thời giao thoa với vô biên vạn vật, không còn ranh giới trong hay ngoài vũ trụ nơi tâm nữa.
 
Mạch sống tâm linh ấy nếu phát triển TOÀN XẢ và thanh tịnh cực độ thì chính nó sẽ trở thành Thánh Lưu giải thoát, gọi là Niết Bàn. Khoa học sinh thể ngày nay đã tìm ra mạch sống động vật là ADN. Còn khoa học vật lý thì bảo “mạch sống vi biến” ấy hằng còn, vì nó là gạch nối giữa “hạt tử hữu hình” (particule) và “sóng tử vô hình” (Quantique), hay giữa vật và tâm.
 
Tức là tình trạng hiện hữu có thể trở thành vô hiện hữu, hay từ kkông hiện hữu có thể trở thành có hiện hữu. Chúng ta có thể viết công thức KHÔNG = CÓ để ám chỉ mạch sống gồm tâm linh và vật chất nầy. Khi trở thành thánh thiện, mạch sống chính là “gạch nối siêu việt, tự do” giữa luân hồi và giải thoát, chứ mạch sống không phải đơn giản chỉ là những gì, đang hoạt động, cần nuôi dưỡng, trong quãng đời nằm giữa 2 điểm sinh và tử. Nói tóm lại, Chánh Mạng trong Bát Chánh Đạo là một trong những pháp hướng về siêu việt !
 

Thứ sáu, Cố Gắng Chân Chánh  

hay Chánh Tinh Tấn (Sammà Vàyàmo).
 
Nói đến Chánh Tinh tấn, chúng ta có thể nhớ lại ngay pháp tinh tấn hay các pháp tương đương, có mặt trong hầu hết những Bồ Đề Phần. Chẳng hạng như trong Bồ Đề Phần thứ nhất, Tứ Niệm Xứ, chúng ta có 2 pháp tương đương là tinh cần, và tỉnh giác (Àtàpà Sampajàno Satimà). Trong Bồ Đề Phần thứ hai Tứ Chánh Cần, chúng ta có một pháp tương đương, nằm trong 5 pháp nuôi dưỡng Tứ Chánh Cần, là Tinh tấn Bất thối (Araddho Viriyo). Trong Bồ Đrề Phần thứ ba, Tứ Như Ý Túc, chúng ta có chính pháp ấy, là Tấn Như Ý Túc (Viriya iddhipàda). Trong 2 Bồ Đề Phần thứ tư và thứ năm Ngũ Căn và Ngũ Lực, chúng ta có 2 pháp ấy là Tấn Căn (Viriya indriya) và Tấn Lực (Viriya Bàla). Trong Bồ Đề Phần thứ sáu, Thất Giác Chi, chúng ta cũng thấy 1 pháp ấy là Tấn Giác Chi (Viriya Bojjhanga).
 
Như vập pháp Tinh Tân trong Bát Chánh Đạo là một tổng hợp vô cùng đầy đủ, chứ không phải chỉ là những chi pháp tiêu biểu, như được tìm thấy trong các kinh khác. Tuy nhiên, để có những chi pháp căn bản cụ thể, chúng tôi cũng xin nêu ra :
 
                              a/ Tinh tấn chế ngự các căn
                              b/ Tinh tấn xa lìa ác ý 
                              c/ Tinh tấn an trú trong pháp thiền
                              d/ Tinh tấn giữ tròn giới hạnh.
 
Ngoài ra, Pháp Tinh Tấn cũng có mặt đứng hàng thứ năm trong Thập Độ (sau các pháp bố thí, trì giới, xuất gia, và trí tuệ). Hơn nữa, Pháp Tinh Tấn trong Bát Chánh Đạo là một phẩm cách luôn luôn có buông xả và trí tuệ hổ trợ, nên dù tinh tấn mà vẫn không cực đoan. Đây chính là đặc điểm đáng nhấn mạnh.
 

Thứ bảy, Nhớ Biết Chân Chánh

Hay Chánh Niệm (Sammà Sati).
 
Chánh Niệm, hay nhớ biết chân chánh ở đây ám chỉ sự thanh tịnh và tỉnh táo của tâm thức tự tại an trụ nơi chính nó. Điều đáng tiếc, chữ niệm thường bị hiểu lầm, là sự lập đi lập lại một danh hiệu (hay đề mục nào đó) trong đầu.
 
Và ít người đã thẳng thắn nói ra sự lệch lạc về sự NIỆM ấy, nên thiền pháp trong Phật giáo đã bị xem như một loại mật chú. Thậm chí có người còn cho rằng “tụng thầm một danh hiệu duy nhất nào đó, thì tâm trở thành an trụ”. Họ quả thật đã không biết rằng “khi tâm bám chặt, hòa lẫn vào một đối tương thì nó không phải là tâm giải thoát, mà là tâm bị cầm tù một cách tinh vi”. Không khéo hậu quả của tâm bị cầm tù, nhập một với đối tượng ấy, có thể phát ra một số “huyền lực kỳ lạc”, làm cho hành giả bị tẩu hỏa nhập ma, rơi vào tà thiền, rất nguy hiểm. Nếu họ không bị tẩu hỏa nhập ma, thì họ sinh ra ngã mạng, cho rằng ta có thần pháp. Vậy khi phát tâm hành thiền, chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ rằng CHÁNH QUẢ của pháp hành đến từ Chánh Niệm, trong đó chữ CHÁNH chứa đựng cái ý nghĩa giải thoát.
 
Cũng xin thưa rằng : Tụng danh hiệu của một vị Phật, đồng thời hiểu ý nghĩa phẩm hạnh danh hiệu ấy là gì, để thực hành và nhớ đến ân đức của Ngài, là một việc rất tốt, hoàn toàn không liên quan gì đến tình trạng “thần lực huyền hoặc” nói trên. Xin nêu rõ, kẻo có sự hiểu lầm.
 
Tóm lại, Chánh Niệm là Pháp của Phật, chỉ cách cho hành giả quay về với chính mình một cách thanh tịnh, hỷ xả, không chán ghét thân nầy thực tại nầy, càng không ham luyến chấp trước nó, để cho nó là ta, là của ta, mà hành giả chỉ xem nó như phương tiện để tu hành, xuyên qua một vòng luân hồi, như kẻ hành trình dùng thuyền bè vượt qua sông biển vậy. Và bốn niệm nhắc lại dưới đây là các pháp quay về ấy. Bốn Chánh Niệm đó là :
 
                               a/Niệm nhớ, biết thân trong thân,
                               b/Niệm nhớ, biết thọ trong thọ,
                               c/Niệm nhớ, biết tâm trong tâm,
                               d/Niệm nhớ, biết pháp trong pháp.
 

 Thứ tám, Nhất Tâm Chân Chánh  

Hay Chánh Định (Sammà Samàdhi),
 
Chánh Định hay nhất tâm chân chánh thanh tịnh là pháp thứ tám của Bát Chánh Đạo. Chánh định ở đây cần gạch dưới chữ chánh, là tâm hoàn hoàn an trụ, hết phóng và tự tại nơi chính nó, chứ không phải là tâm bị cầm tù bỡi đế mục. Khi tâm hết phóng, hết vọng, an trụ nơi chính nó, thì tâm mới vô tư quan sát bất cứ pháp hành nào, cảm thọ nào, một cách bình đẳng, để thấy nó luôn luôn biến hành là như vậy, tâm và pháp nhờ đó giảm dần tinh trạng hữu vi, dọc theo chiều dài còn lại của kiếp sống, hướng về điểm chót, một cách không bị đối tượng ảnh hưởng. Ngoài ra, Chánh Định trong Bát Thánh Đạo cũng có nghĩa là Toàn Định (Jhàna) và TOÀN XẢ (Sabba Upekkhà). Toàn định và XẢ ở đây không còn phiến diện. -Để chi ?
 
             a/Để cho tâm vắng lặng (vượt tầm, tứ, phỉ, và lạc).
             b/Để cho tâm không vướng các quả thiền.
             c/Để cho tâm hướng đến thánh đạo .
             d/Để cho tâm nhận biết Sát-Na Niết Bàn.
 
Chánh định nầy chính là pháp siêu việt giải thoát, vào giờ phút lâm chung của kiếp chót nơi một vị Phật hay một Thánh A La Hán. Xin chớ hiểu lầm trạng thái nhập định huyền hoặc, vướng mắc thần thông của các giáo phái khác, và nghĩ rằng đó cũng cùng loại pháp hành của nhà Phật. Vì trạng thái nhập định đó, không có phẩm cách CHẮNH ĐỊNH và TOÀN XA, như đạo Phật.
 
Nghĩa là vào giây phút giáp tử, thực tại cơ thể của Thánh Nhân hay của phàm nhân hoàn toàn không còn khả năng để tiếp tục sự sống. Thần kinh của họ không còn “cung cấp” cho thân thức bất cứ một cảm giác nào. Sự dày vò thể xác của thân bệnh trong giai đoạn hấp hối đã hoàn toàn trôi qua, hay chấm dứt.
 
Khi ấy tất cả thánh lực để giải thoát (nếu là thánh nhân) hay tất cả nghiệp lực để tái sinh luân hồi (nếu là phàm tục), chỉ là những pháp hành thuần túy của tâm thức toàn tịnh, hay của ý nghiệp ham sống, ô trược. Một bên phàm tục, bị hạn chế, khao khát, hướng về tái sinh. Một bên thanh tịnh, vô biên, vô lượng, không hướng về bất cứ cái gì luân hồi, hợp tan hết, nên giải thoát.
 
Trên đây là những lời chia xẻ chân thành, để chúng tôi kết thúc bài nói chuyện về Bồ Đề Phần thứ bảy hôm nay, tên là Bát Chánh Đạo, và nhân tiện cũng để hoàn tất loạt khảo luận khiêm nhượng về toàn bộ pháp hành trong đạo Phật, gọi là Thất Bồ Đề Phần, hay 37 Phẩm Trợ Đạo vậy.
 
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
 
Cám ơn quí vị đã lắng nghe.
 
Dứt khóa học Thất Bồ Đề Phần.
 
Cư sĩ Tuệ Lạc (NĐ) biên soạn.
***
Mise à jour le Mardi, 19 Juin 2012 14:34  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS