Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille

THẤT GIÁC CHI

Bồ Đề Phần thứ 6 

(Giảng ngày 07/05/2012) :

THẤT GIÁC CHI.

 
Bố cục :
I. Giới thiệu lý do.
II.Chú giải.
III.Vì sao Thất Giác Chi gọi là “Dược Pháp” ?
IV.Kết luận.

 

I. Nguyên do Phật nói Pháp

GIÁC CHI (Bojjhangasutta)
 
Pháp GIÁC CHI tìm thấy trong TẬP BỘ KINH (Samyutta Nikàya), thuộc Mahàvagga (Đại phẩm), ở 3 chỗ với 3 lý do như sau :
 
1/ Lý do thứ nhất : Khi ấy 2 đại đệ tử Phật, là Đại Ca Diếp (Mahà Kassapa), và Đại Mục Kiền Liên (Mahà Moggallàna) thọ bệnh, Phật từ bi thuyết bảy câu kệ Giác Chi. Hai đại đệ tử nghe xong bình phục. Kệ ngôn nầy về sau gọi là Đoãn Linh Ứng Dược Vương Pháp Kệ (Cullaràjaparittagàthà). Thích nghĩa :
 
“Culla” có nghĩa tự điển là “tiểu”, nhưng ở đây nó không ám chỉ “nhỏ”, mà ám chỉ mấy câu, nên gọi là «ĐOÃN», hay ngắn. “Ràja” nghĩa là “vua”, hay “vương”, «Paritta» nghĩa là «Linh ứng», còn “gàthà” nghĩa là “kệ ngôn”, hay thơ đạo.
 
2/ Lý do thứ hai : Ngày kia thân Phật tỏ ra mỏi mệt, vì không ngừng du hành ban pháp độ sinh, đệ tử Thuần Đà (Cunda) thấy vậy, bèn lập lại kệ ngôn Thất Giác Chi. Phật nghe và hoan hỷ, thân khỏe lại, nên gọi là «Thuần Đà Linh Ứng Kệ Tụng» (Cundaparittasutta), và nội dung cũng chỉ là Bảy Chi Pháp giác ngộ.
 
3/ Lý do thứ ba : Khi ấy sa môn Girimànanda, đệ tử Phật bị trọng bệnh dày vò thân xác, A-Nan-Đa thỉnh Phật thuyết pháp cứu độ. Phật bảo A-Nan-Đa thay Ngài đến chỗ bệnh nhân, thuyết pháp GIÁC CHI dưới dạng 10 điều TƯỞNG NHỚ, và khi nghe xong, sa môn Girimànanda đã khỏi bệnh. Về sau pháp nầy còn gọi là Kinh GRIMÀNANDA.
 
Mười điểu tưởng nhớ, được thuyết đến Sa Môn GIRIMÀNAD là :
 
1/Vô thường, 2/Vô ngã, 3/Bất tịnh, 4/Sự khổ, 5/Dứt bỏ vật dụng, 6/Ly dục, 7/An trụ, 8/Không vướng mắc (chấp thủ), 9/Pháp biến hành, 10/Hơi thở.
 
Nơi chốn Phật thuyết THẤT GIÁC CHI là tại khu Trúc Lâm tịnh xá, giữa vườn có nhiều SÓC ĐEN ở, gần VƯƠNG XÁ thành.
 
Các thế hệ Phật tử sau nầy, xuất gia cũng như tại gia, đã xem kinh nầy như là DƯỢC PHÁP. Họ thường dùng tuyên tụng và suy nghiệm, khi gặp những điều bất hạnh trong sự sống.
 
Chúng ta hãy đi vào chính văn Pàlì của
LINH KỆ THẤT GIÁC CHI.
(Bojjhaṅgahammaparittaŋ)
 
Pàlì v ăn
 
1- Bojjhaṅga saṭi sankhàto
dhammànaŋ vicayo tathà
viriyaŋ pìti passadhi
bojjhaṅgà ca tathà pare.
 
2. Samàdhupekkhà bojjhaṅgà,
sabbe te sabbadassinà
Muninà sammàdakkhàtà
bhàvità bahulìkatà
 
3. Saŋvattanti abhiññàya
nibbànàya ca bodhiyà.
 
* Etena saccavajjena
sotthi te hotu sabbadà.
 
4. Ekasmiŋ samaye nàtho
Moggallànañca Kassapaŋ
gilàne dukkhite disvà
 
5. Bojjhaṅge satta desayi
te ca taŋ abhinanditvà
rogà mucciŋsu taŋ khaṇe.
 
* Etene saccavajjena
sotthi te hotu sabbadà.
 
6. Ekadà dhammaràjà pi
gelaññenàbhipìḷito
Cundattherena taññeva
bhaṇàpetvàna sàdaraŋ
 
7. Sammoditvà ca àbàdhà
tamhà vuṭṭhàsi ṭhànaso.
 
* Etena saccavajjena
sotthi te hotu sabbadà
 
8. Bahìnà te ca àbàdhà
tiṇṇanampi mahesinaŋ
maggàhatakilesà va
pattànuppati dhammataŋ.
 
* Etena saccavajjena
sotthi te hotu sabbadà
 
(Cullaràjaparitta)
 
Dịch Việt :
  1. 1.Giác Chi gồm có NIỆM (nhớ biết mình)
Và TRẠCH PHÁP (= tâm như pháp)
TINH TẤN, PHỈ LẠC, KHINH AN như thế 5 pháp đi đầu.
 
  1. 2.Và ĐỊNH , XẢ Giác Chi, tất cả là bảy,
mà đấng Mâu Ni đã thông suốt,
hành thâm tròn đầy, chứng đắc viên mãn.
 
  1. 3.Ngài đạt đại thần thông, đại trí Bồ Đề,
giải thoát luân hồi, đắc Niết Bàn..
 
                     * Do lời chân tịnh nầy,
cầu xin tất cả được phục hồi.
 
  1. 4.Thuở kia, Phật thấy hai sa-môn
Mục Kiền Liên và Ca Diếp khổ vì thân bệnh,
 
5. Ngài bèn thuyết Dược Pháp Thất Giác Chi.
Hai vị hân hoan thính pháp.
Thân bệnh liền tiêu trừ.
 
                     * Do lời chân tịnh nầy,
cầu xin tất cả được phục hồi.
 
  1. 6.Lúc nọ, đấng Pháp Vương thọ bệnh,
thầy Cunda tụng Dược Pháp Thất Giác Chi.
 
  1. 7.Phật nghe hoan hỷ,
rồi bình phục.
 
* Do lời chân tịnh nầy, cấu xin tất cả được phục hồi.
 
  1. 8.Những thân bệnh mà tam vị Thánh Nhân
(Phật và hai đại đệ tử) đã được tiêu trừ
(bỡi Dược Pháp°Thất Giác Chi),
như các phiền não đã bị tuyệt diệt,
bằng Thánh Đạo, không còn tái sinh nữa.
 
* Do lời chân tịnh nầy,
cấu xin tất cả được hạnh phúc.
___
 
(Trích từ phần cuối  trong “Vương dược Pháp”)
(Tuệ Lạc dịch 22/11/2011)
Chú ý : Các số thứ tự và ngôi sao (*) do người dịch thêm vào, để ngắt câu, giúp quí vị dễ theo dõi 2 trang Pàli-Vi(êt, nhưng trong bản kinh chánh không có. Còn dấu (°) là tiêu biểu khía cạnh trị bệnh (=dược).
Mong thông cảm. Kính báo !

II. Chú giải.

Satta bojjhaṅgāni (Thất Giác Chi)
hay Bảy Chi Pháp giác ngộ, gồm :
1-Niệm giác chi (Saṭi bojjhaṅga) : Chánh niệm là yếu tố đưa đến giác ngộ.
2-Trạch pháp giác chi (Dhammavicaya bojjhaṅga) : Sống như pháp trên căn bản chánh định và minh sát, là yếu tố giác ngộ.
3-Tinh tấn giác chi (Viriya bojjhaṅga) : Tinh tấn trong pháp hành thanh tịnh là yếu tố giác ngộ.
4-Phỉ lạc giác chi (Pītisukha bojjhaṅga) : «No vui» (tươi nhuận) trong pháp hành thanh tịnh là yếu tố giác ngộ.
5-Khinh an gìác chi (Passadhi bojjhaṅga) : Nhẹ nhàng vô ngại  trong pháp hành là yếu tố giác ngộ.
6-Định giác chi (Samādhi bojjaṅga) : An định trong chánh thiền là yếu tố giác ngộ.
7-Xả giác chi (Upekkhā bojjhaṅga) : Hết vướng mắc (buông thả), bình đẳng, và tự tại trong quả thiền, là yếu tố giác ngộ.
 
NÓI CÁCH KHÁC :
*Niệm giác chi là thần thức luôn luôn an tịnh, thường xuyên nhớ biết không ngoài Tứ Niệm Xứ. Trong đó, hai pháp hành căn bàn là niệm thân (hơi thở), và niệm thọ (cảm giác) đóng vai “tiền phong”. Khi thuần thục trong cả hai niệm xứ nầy, thì hành giả chứng đắc pháp vô thường, «tự nhiên thấy rõ» toàn thân và toàn tâm chỉ là “chỗ chứa” các biến hành của 3 tập hợp, là sắc uẩn, thọ uẩn, và tưởng uẩn.
-“Biến hành của sắc uẩn” ám chỉ tứ đại (đất, nước, lửa, và khí) trong thân, đang tuần tự sinh, trụ, hoại, diệt, như một qui luật tự nhiên. Từ đó, tâm linh hành giả thấy SẮC chỉ là SẮC chứ không là gì cả, nó không phải là “ta”, hay là “của ta”.
-“Biến hành của thọ uẩn” ám chỉ cảm giác tùy thuộc vào thực trạng thay đổi không ngừng của tứ đại, nên tâm linh không chấp vào cảm giác, dù đó là cảm giác đang ở hiện tại, hay đã qua rồi, sắp đến hay sẽ đi…là “cảm giác của ta”.
 
-“Biến hành của tưởng uẩn” ám chỉ vô số ấn tượng, khái niệm thuận nghịch, chồng chất liên tục lên tâm thức, không có ấn tượng (khái niệm) nào là nguyên vẹn, là “thật” cả. Còn chánh niệm là thu thúc, không để ngoại trần xuyên qua 5 căn, lưu mãi ấn tượng vào tư thức. Và pháp trần, hay cảnh ý trong tâm cũng vậy. Chánh niệm có hiệu lực “tách rời” tư duy (tưởng uẩn) ra khỏi kho “kiến thức”, hằng đựợc nuôi dưỡng bằng khái niệm hay ấn tượng về ngoại trần, để “nó” không thiên về bất thiện. Từ đó, tưởng uẩn sẽ dần dần được thanh lọc, lành mạnh hóa, bỡi thiền pháp.
 
*Trạch pháp giác chi là SỐNG NHƯ PHÁP, thuần thục trong chánh thiền, trong quan sát các pháp hữu vi hiện tại, một cách như thị, thấy nó hằng thay đổi, vô thường. Tâm linh không bị những ấn tượng, hay khái niệm ngũ ngầm nội tâm chi phối. Trạch pháp giác chi cũng ám chỉ ba nghiệp thân khẩu ý đã thanh tịnh (sống như pháp), và tâm thức thường xuyên khắn khít với các bậc thiền từ thấp lên cao, qua tầm, tứ, phỉ, lạc, định, để hướng đến đạo quả.
 
*Tấn giác chi là xác nhận không thụt lùi (hay bế tắc) trong thiền pháp. Nhất là tấn giác chi còn có sự hổ trợ của tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn và ngũ lực. Tấn Giác Chi ở đây ám chỉ sự tiến bộ thực sự, qua kết quả vững chắc trong pháp hành, chứ không phải tiến bộ dọ dẫm, mơ hồ, thiếu cơ sở.
 
*Phỉ lạc giác chi là sự “no vui” (kinh mạch lưu thông), do thực chứng thiền pháp, với đức tin được củng cố, xác nhận rằng, ấy là một pháp hành hữu hiệu, thanh cao. Phỉ lạc ở đây ám chỉ sự hoan hỷ toàn diện, và biết rõ tại sao. Nhờ phỉ lạc giác chi mà hành giả không cảm thấy sự sống giản dị, đạm bạc, tri túc, cô tịch…là buồn tẻ, thiếu thốn. Nhờ phỉ lạc giác chi mà vẻ mặt hành giả luôn luôn tươi tỉnh, từ ái, và thanh tịnh
 
*Khinh an giác chi là nhẹ nhàng, hân hoan, biết rõ thân tâm thoải mái, không mỏi mệt. Nhờ khinh an giác chi, mà hành giả không đau nhức cơ bắp, hay không căng thẳng thần kinh. Nhục thân không nằm trong giới hạn vật lý, như không chịu đựng bất tiện không gian và thời gian nữa. Nhờ chẳng còn những trở ngại như thế, mà thiền tâm của hành giả mới phát triển một cách liên tục và vô ngại được.
 
*Định giác chi là tâm hết phóng túng, an trụ trong toàn thân. “Tâm ấy”thanh tịnh, tự tại «đối diện» với mọi biến hành của sắc uẩn và thọ uẩn. Khi định rồi thì tâm thức chỉ «có» một cảnh. “Nó”«thấy và quan sát» duy nhất 1 thực tại, và không bị ảnh hưởng bỡi những gì đã qua hay sẽ đến. Thực tại như thế nào thì tâm thức chứng thật như thế ấy, không có tư ý xen vào. Nghĩa là khi hoàn toàn thanh tịnh (jhàna) thì “tâm” chỉ an trú vào MỘT đề mục, không biết đến những đối tượng khác.
 
*Xả giác chi là tâm hết vướng mắc, ly cách, biết rõ «pháp giải thoát”. “Nó” buông bỏ các ấn tượng cảm thọ trong tưởng uẩn, và an tịnh tự tại nơi pháp thiền. Nhờ Xả Giác Chi mà tâm không mắc dính với cả quả thiền. Tâm an trụ nơi chính nó, và song hành với đề mục, chứ không cột dính vào đề mục. “Tâm” do đó hết biên chấp, bình đẳng, vô lượng, để trong sạch hướng đến thánh đạo. 

 

III. Vì sao Thất Giác Chi được gọi là DƯỢC PHÁP ?

-Vì đó là Bảy Pháp làm tiêu trừ thân bệnh và tâm bệnh.
 
2. Xin tuần tự diễn giảng.
 
Thứ nhất : NIỆM GIÁC CHI=SAṬI.
Chữ “niệm” thường cho chúng ta một ý nghĩa «đơn giản» là “lập lại một danh hiệu nào đó vang vang trong tâm”. Nhưng theo tiếng Pàli, ngôn ngữ của đức Phật ngày xưa, thì chữ SAṬI có nghĩa chính là nhớ biết mình trong hiện tại. Có “SAṬI”, hay có NIỆM, tức là có tỉnh thức thường trực, tánh biết không phân tán, hết phóng tâm, khắn khít với pháp hành, hay luôn luôn nhớ biết đề mục thanh tịnh hiện tại. Từ đó, ngoại trần không còn xuyên qua năm giác quan, kích thích vào não bộ, không còn khuấy động thần kinh, không làm cho thân thể hành giả nhận chịu liên tục các loại «cảm thọ thuận chiều hay nghịch chiều, xung đột», xuyên qua mắt, tai, mũi, lưỡi và da (thân) nữa.
 
Kinh mạch hành giả nhờ vậy được tuần hoàn một cách điều hòa, lưu thông và quân bình, sinh khí không bị các cảm giác dồn dập chồng chất, hay chênh lệch làm tắc nghẽn, vẩn đục, ô trược, giúp cho kháng tố vật lý nhân thể tiêu trừ dễ dàng các cặn bã được sa thải. Đây có thể gọi là «dược pháp» thanh lọc thân thể.
 
Còn «dược pháp» thanh lọc tinh thần (hay thanh lọc tâm hồn), là khi thể xác được điều hòa, nhịp sống (hay nhịp tim đập) được thoải mái, thì tri thức (Citta) của hành giả trở nên quang minh, năng lượng và «thần lực» trong thân tự động sung mãn, giao thoa với vô biên vũ trụ, vượt lên trên các giới hạn, vô hình lẫn hữu hình, hướng đến tính thanh tịnh, tự tại giữa 2 hiện tượng «có» và «không». Nói cách khác, hiệu lực của «dược pháp» ấy, là làm cho tâm tư giảm thiểu, rồi dứt tuyệt phiền não. Kiến tánh (Diṭṭhi) tự nhiên được sạch sẽ, xa lìa mọi ô-trược, mọi lậu hoặc. Tâm bệnh được hóa giải. Thần thông do đó có thể hiển lộ ra.
 
Thứ hai : TRẠCH PHÁP GIÁC CHI=DHAMMA VICAYA.
Chữ «Trạch Pháp» là một danh từ Hán Việt, tương đối khó hiểu. Nhưng ý nghĩa Pàlì của chữ Dhamma Vicaya là sống như pháp (thanh tịnh và hỷ xả, giải thoát), tức là sống không buông lung «ngoài pháp» cũng không sống, cố chấp «trong pháp». Vì «sống ngoài pháp», thì dục vọng gia tăng, còn «sống chấp trong pháp» thì ngã chướng phát sinh. Cả hai «biên hành» trong và ngoài đó, hằng làm cho thân và tâm con người triền miên nhiễm bệnh.
 
Nói cụ thể hơn, sống như pháp ở đây ám chỉ sống đúng theo Bát Chánh Trung Đạo, sống thực hành viên mãn Tứ Niệm Xứ, sống có đủ Tứ Chánh Cần, Tứ Như ý Túc, Ngũ Căn, và Ngũ Lực. Từ đó, Trạch Pháp Giác Chi chính là «sống thường xuyên với thần dược», để giải trừ cả thân bệnh lẫn tâm bệnh.
 
Thứ ba : TINH TẤN GIÁC CHI=VIRIYA.
Dược giác chi TINH TẤN ám chỉ sự tích cực liên tục. Nhưng như thế không có nghĩa là tâm thức thiếu sáng suốt, chẳng biết quân bình bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, và ngồi), nên “dược tính tinh tấn” vẫn “thao tác”, gíúp cho nhịp sống thể xác luôn luôn bình thường với hệ thống thần kinh. Năng lực của “nó” là hóa giải, không cho ngoại trần kích thích thần kinh, ảnh hưởng vào các cơ bắp hoạt động. Do đó, tuy tinh tấn mà cơ thể vẫn ổn định, để phát triển mạnh mẽ theo chu kỳ lý hóa, ngừa các chênh lệch, như thần dược không gây thân bệnh.
 
Về phương diện tinh thần, Dược Giác Chi TINH TẤN hằng giúp cho tinh thần tiến hóa một cách tươi tỉnh, không để cho tình trạng chán nãn xảy ra, không tạo dịp cho các pháp bất thiện phát sinh, gây ra ý nghiệp xấu. TINH TẤN khi gọi là một Dược Pháp, không giống như sự «cố gắng» thường tình, do lòng tham thúc đẩy. Mà Dược Pháp TINH TẤN trong Thất Giác Chi, đóng vai vừa là một tiềm lực tâm linh, vừa là một diệu pháp ngăn ngừa ác tính. “Nó” có khả năng giải trừ «vi trùng dục vọng”, giúp tâm linh tránh bệnh hoạn.
 
Thứ tư : PHỈ LẠC GIÁC CHI=PÌTI SUKHA.
Phỉ lạc ở đây là «vui ly tham» trong pháp hành (thiền). Đó không phải là sự vui sướng theo thế tục. Phỉ lạc nầy chính là «vui trong thanh tịnh». Nó là «thuốc bổ» rất hữu hiệu cho cả hai phương diện, thể xác và tinh thần. Chúng tôi không diễn giải nhiều, quí vị cũng thừa biết rằng, niềm vui thanh tịnh lúc nào cũng là niềm vui hòa ái, tuy không sôi nổi, nhưng nhẹ nhàng lâu dài. Niềm vui nầy, về phương diện thể xác, hằng làm cho thân người tươi trẻ, sống lâu, vẻ mặt, tự tại, nhân hậu. Về phương diện tinh thần, nó làm cho tâm trí hành giả sáng suốt, nghị lực sung mãn, tuệ nhãn uyên thâm. Từ đó, phỉ lạc nếu hiện hữu trong giây phút cuối cùng của một đời người, nó chính là cái chìa khóa, vừa là ánh đuốc, để mở cửa soi đường cho tâm thức, tiến thẳng vào thiện nghiệp tái sinh lên nhàn cảnh. 
 
Thứ năm : KHINH AN GIÁC CHI=PASSADHI
Khinh an là một phẩm cách, một thành quả siêu việt, trong pháp hành. Hai chữ khinh an tự nó nói lên cái hiện tượng một hành giả đắc pháp, có thể ngồi thiền rất lâu, tối đa đến bảy ngày, không ăn không uống. Nhưng người thường, dù luyện tập thân thể dẻo dai đến đâu, cũng khó có thể ngồi yên như thế trong thời gian tương tự.
 
Theo kinh điển Pàli, tiếng của Phật, khinh an gọi là PASSADHI. Sách Visuddhimagga 129 (Thanh Tịnh Đạo 129), ghi : “Passadhi” có 2 phương diện, la Kàya Passadhi (Thân khinh an) và Citta Passadhi (Tâm khinh an).
 
Thân khinh an là hiệu quả của «dược tánh pháp hành», hằng làm cho sự tuần hoàn máu huyết khắp thân thể tự điều hòa, không chênh lệch, trong bất cứ oai nghi nào (đi, đứng, nằm, hay ngồi), suốt một thời gian dài hành thiền, mà không bị sự bất động của oai nghi ấy làm cho tắt nghẽn, gây phản ứng cơ bắp. Sự nhập thiền (rất hiếm có) tối đa 7 ngày trong nhà Phật, cũng gián tiếp nói rằng, «dược tánh pháp thiền», có thể làm chậm lại sự tiêu thụ năng lượng hằng ngày của một người ít đi đến 7 lần. Sau đó hành giả phải «xả thiền», để tái lập nguồn dinh dưỡng mới, trong thanh tịnh. Phật giáo luôn luôn tránh hai tình trạng thái quá, là say sưa lợi dưỡng, và hành xác quá độ, mù quáng.
 
Còn tâm khinh an cũng là một hiệu quả mầu nhiệm khác, của «dược tánh pháp thiền». Nhờ có ý thức thanh tịnh, và nhờ thân thể thư thái (như vừa nói trên), nên tâm khinh an tự nhiên được củng cố. Và trên căn bản củng cố ấy mà thần lực nhập định cũng trở thành hùng hậu và bén nhạy. Đó là một trong những nguyên nhân chính, khi cực độ làm nở ra các hoa trái siêu phàm, gọi là thần thông. Khi sự khinh an mà hùng hậu, bén nhạy, thì «tâm trường thanh tịnh» mới đủ khả năng loang rộng, kích thích và thức tỉnh được những đối tượng chúng sanh si mê, tạo duyên hướng thiện trong cuộc sống, như phép lạ !.
 
Nói tóm lại, khi tinh tấn hành thiền, ai cũng không tránh khỏi sự đau nhức cơ bắp. Nhưng nếu không chứng được «dược tánh khinh an» của pháp thiền, để hóa giải, mà dùng sự chịu đựng (khổ hạnh) của mình, tập mãi «cho quen», thì không tốt, sẽ lạc xa cứu cánh. Vì sự chịu đựng hay «nhẫn nại» thân xác lúc nào cũng có giới hạn.
 
Thứ sáu : ĐỊNH GIÁC CHI= SAMÀDH.
«ĐỊNH» là một danh từ Hán Việt mà người nào chưa nghiên cứu sâu vào Phật học, cũng chỉ hiểu tổng quát, là «thân thể tạm thời ngồi bất động, và tinh thần tập trung vào một đối tượng». Vậy một người đứng yên, tâp trung tinh thần để bắn một người khác chết, có phải là «định» không ? Là Phật tử bình thường, xin trả lời dứt khoát rằng «không» !
 
Như thế, ĐỊNH trong Phật giáo là gì ?
 
Theo Samàdhi khandha, Subha Suttanta, thuộc Trường Bộ Kinh (Dìgha Nikàya I.209. sq), thì «ĐỊNH» trong cổ ngữ  Pàlì «Cittassa ekaggatà», có «nghĩa tự điển» là «đi thẳng một đường, nhất điểm», và nghĩa trong pháp hành thiền là “Tâm an nơi chính nó” hay “Bất Loạn”. Kinh nầy còn ghi rõ : -Nếu ĐỊNH trong Chánh thiền (Sammajhàna), mà được gọi là «dược pháp», thì phải gồm đủ 5 chi :
 
-Chi thứ nhất : Các «căn» hay «sáu giác quan» của hành giả nhất thời phải được an toàn (Indriyesu gutta dvàratà), tức là trong hiện tại sáu giác quan ấy đang được «định lực» trong pháp thiền che chở, không bị ngoại trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) chi phối. Để cụ thể và dễ hiểu hơn, sách Phật đã ví những giác quan ấy như những cửa ngõ, nếu không được đóng chặc và bảo vệ thường xuyên, thì đạo tặc sẽ lẻn vào. Đạo tặc ở đây ám chỉ ngoại trần, phiền não.
 
-Chi thứ hai : Hành giả đang vững chắc làm chủ chính mình (Saṭi Sampajañña=nhớ biết nhịp sống thực tại), hay ý thức được toàn thân, tức là tâm không phóng ra ngoài thân.
-Chi thứ ba : Có cảm giác tự tại (Santutthì), tức là tâm hành giả hẳn hòi tươi vui hài lòng, không trông đợi gì hết.
-Chi thứ tư : Không có 5 chướng ngại (Anìvaranàni), hay hành giả không còn bị chi phối bỡi 5 «triền cái» : a-Tham dục (Kàmachanda), b-Bất mãn, ý xấu (Abhijjà vyàpada), c-Thụy miên, hôn trầm, hay nặng nề, buồn ngủ, lười biếng (Thìna middha), d-Phóng tâm, hay bất an vọng động (Uddhacca kukkucca), và e-Hoài nghi, do dự, không chắc (Vicikiccà).
-Chi thứ năm : Thuần thục 4 bậc thiền (Catu jhànàs), tức là thù thắng với «Tầm, Tứ, Phỉ, Lạc» (Vitakka, Vicàra, Pìti, Sukha).
 
Xin nói rõ rằng, ĐỊNH là một thành quả của tâm thiền. Mà tâm là động lực của thân, nên ĐỊNH đương nhiên là một «thần dược» cho thân. Đồng thời ĐỊNH cũng tự biến thành «dược năng» cho chính «nó», là TÂM.
 
Thứ bảy : XẢ GIÁC CHI=UPEKKHÀ
«XẢ» là một từ rất thanh nhã trong ngôn ngữ nhà Phật. Thông thường, nó ám chỉ tính “tha thứ” hằng ngày. Người ta hay dùng nó đi đôi với chữ «Hỷ», thành ra «Hỷ Xả». Cái nghĩa phổ thông “vui vẻ tha thứ” nầy ai cũng biết, nhưng nghĩa lý sâu sắc của hỷ XẢ, theo Phật học, thiết nghĩ nếu có dịp, chúng ta cũng nên trình bày, chia xẻ.
 
Chữ UPEKKHÀ trong kinh điển Pàlì, mặc dù xưa nay thường được dịch ra Hán Việt là «XẢ». Nhưng nó cũng chuyên chở nhiều ý nghĩa khác, tùy trình độ mà hiểu, như sau :
 
-XẢ có nghĩa là đã nhận lấy cảm thọ đó rồi, mà bỏ qua.
-XẢ có nghĩa là sẵn sàng tha thứ, hòa giải, vì xét thấy đó là thái độ tốt nhất.
-Và sau cùng, XẢ cũng còn có một ý nghĩa rất siêu việt, là vô phân biệt, không chấp thủ, không có cảm giác bị xúc phạm, không dị ứng đối tượng, hay TÂM XẢ là cái tâm thanh tịnh, bình đẳng, và vô nhiễm.
 
Chúng tôi thiết nghĩ, hai nghĩa đầu của chữ XẢ, tuy rất hướng thiện, nhưng ấy chỉ là nghĩa phương tiện hay pháp tương đối, chưa phải là «cứu cánh». Vì tương đối, nên tuy ngoại miệng nói “hỷ xả”, nhưng ấn tượng không hài lòng vi tế vẫn còn trong tâm. Duy nghĩa thứ ba ám chỉ hạnh XẢ, mới có thể được gọi là DƯỢC PHÁP, vì hạnh xả hay vô nhiễm mới là năng lực đủ sức tiêu trừ hết các thứ bệnh cho thân cũng như cho tâm. Trong Tứ Vô Lượng Tâm là TỪ, BI, Hỷ, XẢ, thì XẢ là vô lượng tâm cứu cánh và giải thoát vì lý do nầy
 
Bậc có đại vô lượng tâm nầy khi mãn kiếp, rũ bỏ báo thân, thì không còn vướng mắc vào bất cứ vòng sinh tử luân hồi nào nữa, với bất cứ lý do gì.

 


IV. Kết luận.

Đức Phật Thích Ca từ trước đến nay, đã được các nhà Phật học mệnh danh là «Vô Thượng Dược Y Vương», quả thật không sai. Ngài rất xứng đáng với danh hiệu ấy. Theo chúng tôi nghĩ, giáo lý của Phật không phải chỉ là những phương thuốc duy nhất để chữa trị tâm bệnh, mà giáo lý ấy còn là «Pháp Dược», đối với các thân bệnh của chúng sanh nói chung, và đối với loài người nói riêng nữa.
 
Bằng chứng là ngày nay, chúng ta thấy các bác sĩ tâm não ơ ở những nước tân tiến trên thế giới, đã bắt đầu dùng thiền pháp của nhà Phật, để điều trị một số bệnh căng thẳng thần kinh, và hóa giải được phần nào sự lão hóa, gây ra do tính bức xúc, quay cuồng, mất thăng bằng của tim não.
 
Một người quá âu sầu, lo lắng, qua một đêm đã trở nên già cỗi, mái tóc bạc phơ. Nếu người nầy học đúng thiền pháp, và thực tập thành công, thì hiệu lực của nó có thể làm cho họ tươi trẻ lại.
 
-Trong kinh còn ghi rõ : Hai đệ tử hàng đầu của Phật, là Đại Ca Diếp và Đại Mục Kiền Liên, sau khi nghe Phật thuyết pháp THẤT GIÁC CHI, đã bình phục, như được uống thần dược, và khỏi bệnh.
 
Lại nữa, nếu chúng ta cứ vội vã đánh giá Phật giáo, qua chuông mõ, qua các hình thức cúng bái, có vẻ «mê tín dị đoan», hay qua việc những ông sư mỗi ngày một lần, ôm bình bát đi khất thực, không sản xuất gì cho xã hội cả, rồi chúng ta nghĩ Phật giáo cũng như các tôn giáo khác. -Phải chăng đó chỉ là sản phẩm thuần túy tư tưởng của dân gian, khi con người muốn giải quyết những bế tắc tưởng tượng, khát khao cứu độ, vốn chỉ là những đáp ứng tâm lý muôn đời, do con người sợ sệt mọi bất trắc, lo không được bình an trước vũ trụ đầy «nguy hiểm» kia, chứ không dính dáng gì đến thực tế đời sống ? -Nếu như thế, thì chúng ta đã rơi vào tình trạng nhận xét Phật giáo một cách phiến diện….
 
Về hình thức, Phật giáo có thể giống ở một số điểm với các tôn giáo khác, nhưng trong chiều sâu, Phật giáo hoàn toàn khác hẳn, nếu không muốn nói là trái ngược. Phật giáo trong pháp hành tâm linh, không phải là những gì chúng ta có thể nghĩ bàn trên lý thuyết, dựa theo sự so sánh bề ngoài.
 
Chẳng hạng như nhắc sơ chút xíu vấn đề «thần thông». Nên nhớ rằng, khi nhà Phật đề cập đến chuyện «thần thông», là nhà Phật nói ra một hiện tượng «siêu khoa học», chứ không phải là tiết lộ những «phép lạ», để vinh danh một quyền lực vô hình, để vụ lợi nào hết.
 
Ai đã nghiên cứu sâu xa trong Phật học cũng biết : «Thần thông» là sức mạnh của «siêu vật lý tâm linh». Lý lẽ của sức mạnh siêu vật lý tâm linh không giống như lý lẽ của những sức mạnh hóa hợp vật chất bị hạn chế. Nghĩa là giữa tâm và vật vốn có một «tương quan chuyển hóa hoán vị», tâm có thể biến ra vật, và ngược lại vật nếu cực vi, cũng có thể biến thành tâm. Nhưng trong hạn chế vật chất đời sống, vật chỉ là vật chất nếu nó không hội đủ «khả năng biến hành». Hay tâm chỉ là tâm phàm nếu nó không hội đủ «khả năng siêu việt ấy». Hiện hữu hay biến mất chỉ là hai biên của hạn chế. Nhưng khi cực kỳ biến hóa, hai biên ấy chỉ hoán vị thôi, không có gì tuyệt diệt cả !
 
Và muốn cho nó đủ «khả năng» kỳ diệu đó đó, phải có pháp hành siêu việt của chánh định để triệt tiêu hạn chế. Bỡi hạn chế tạo ra biên giới, làm mất đi mối «tương quan chuyển hóa hoán vị», giữa tâm và vật.
 
Khi hạn chế không còn, thì năng lực của một điểm cũng mạnh như năng lực của tất cả các điểm. Và pháp hành của một điểm cũng là pháp hành của vô số điểm cộng lại. Ta có thể tạm xem đó, như tương đương với «biến hóa đồng loạt» của «nguyên tử», dưới dạng «nổ dây chuyền». Đến cực độ, thì pháp hành triệt tiêu được hạn chế, tức là đạt đến vô biên, hay «XẢ VÔ LƯỢNG» vậy !
 
Và khi sự sống còn nằm trong các vòng hạn chế, muốn có sức mạnh «kỳ diệu» nói trên, khoa học đã dùng pháp hành vật chất, lấy cái hạn chế tương đối lớn tập trung lại (hay nén chặc như định), để đẩy qua cái hạn chế tương đối nhỏ, hầu tạo động cơ. Kết quả, ta thấy 2 «ống phản lực», đã nâng nổi chiếc máy bay.
 
Tương tự như thế, ĐỊNH VÔ SẮC (Arùpa ekaggatà) nói trong sách Phật là gì, nếu không phải là «tập trung» cái hạn chế bị tinh thần chia chẻ của toàn thể không gian bao quanh quả đất (Àkàsanañcà yatana..v..v…) vào «nhất điểm» trong duy nhất một pháp hạn chế của một không gian tâm linh, để không còn cái hạn chế thứ hai nào nữa, và sức mạnh của nó là phá bỏ không gian tương đối, làm hiển lộ «thần thông» ở bất cứ chỗ nào trên cõi thế, không gian tuyệt đối.
 
Từ đó, chúng ta thỉnh thoảng được nghe các giảng sư thiền học nhắc đến tên những bậc thiền vô sắc, như không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu xứ.v.v…Nếu chúng ta chú ý, chúng ta sẽ thấy cái tên nào cũng chứa chữ «không» hay «vô» , để ám chỉ không có cái thứ hai, tức là cái tạo ra hạn chế vậy.
 
Nhưng có thần thông mà không XẢ, thì vẫn vướng mắc, và thần thông ấy có thể bị tiêu mất, khi tham chấp phát sinh, rồi sẽ sa đọa. Tức là thần thông tự nó vừa hữu hạn vừa vô hạn. Hữu hạn (chấp) thì sẽ tận. Vô hạn (hay XẢ) thì thần thông thường hằng.
 
Ví như một tin vui có thể làm cho người bệnh cảm thấy khỏe, không cần thuốc, thì tin vui ấy ắt phải có thần thông ? Người ta nói đó là yếu tố tâm lý. Và «yếu tố tâm lý» là gì, nếu không phải là «lý lẽ của sức mạnh tâm linh tạm thời vượt qua hạn chế ?»
___________________
   
Thành kinh hồi hướng công đức đến toàn thể.
 
Tuệ Lạc.
 

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS