Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille

NGŨ LỰC

 (Giảng ngày 30/04/2012)

Bồ đề phần thứ V :

NGŨ LỰC (Pañca Bàlà).

 

Yếu văn kinh Pàlì và nghĩa Việt :

   «-Saddhā bālassa assaddhiye akampiy‘aṭṭho abhiññeyyo,

                -Viriya bālassa kosajje akampiy‘aṭṭho abhiññeyyo,

                -Sati bālassa pamāde akampiy‘aṭṭho abhiññeyyo,

                -Samādhi bālassa uddhacce akampiy‘aṭṭho abhiññeyyo,

                -Paññā bālassa avijjāya akampiy‘aṭṭho abhiññeyyo».

 

Dịch Việt :

Tín lực, sức mạnh thông thấu thánh quả
Tấn lực, sức mạnh chấm dứt hôn trầm thụy miên
Niệm lực, sức mạnh tỉnh thức phá tan quên mình
Định lực, sức mạnh nhất tâm, xả ly ngoại cảnh
Tuệ lực, sức mạnh giải trừ tâm cảnh và vô minh.

Nói cách khác, đó là năm sức mạnh tinh thần, gồm :

               1- Tín lực, sức mạnh của đức tin (Saddhā bāla)

               2- Tấn lực, sức mạnh của tinh tấn (Viriya bāla)

               3- Niệm lực, sức mạnh của chánh niệm (Saṭi bāla)

               4- Định lực, sức mạnh của định tâm (Samādhi bāla)

           5- Tuệ lực hay sức mạnh của sự trong sáng, thông suốt vạn pháp, nhất là Tứ Diệu Đế. (Pañña bāla)

Lược giải :

«Ngũ Lực» chính là «hoa trái» của sự thanh tịnh các căn và đó là pháp thành tựu 5 quyền năng.

 Khi các căn đã được thanh lọc trong sạch, phát triển đầy đủ và toàn tịnh, tức là các căn không còn mắc dính, không bị luân hồi, không bị phân tán, phí bỏ linh hoạt năng lượng (hay thần khí) vào ngoại cảnh và tâm cảnh nữa.

Khi tâm đã tầy sạch chấp kiến, năng lượng (hay thần khí) do đó biến thành LINH LỰC trong mỗi chúng sanh nói chung, và trong mỗi con người nói riêng. Linh lực đó vốn vô biên, và chính là sức mạnh siêu việt, phản vật chất, bất khả thuyết, bất khả tư nghì. Nhà Phật khám phá ra 5 linh lực ấy trong TÍN, TẤN, NIỆM, ĐỊNH, TUỆ, và còn gọi là NGŨ LỰC.

Nói cách khác, hễ ngũ căn thuần thục trong Thánh Định, thì sức mạnh trong năm căn ấy là thánh lực. Lưu ý : Vì Ngũ Lực có chung nguồn gốc với 5 pháp Thanh Tịnh Các Căn, nên NGŨ LỰC và NGŨ CĂN là 2 phương diện tương tác.

Sau đây là một số chi pháp, hay Chú-Giải (Aṭṭhakathā) liên quan đến NGŨ LỰC, để cống hiến quí vị, rộng đường tham khảo.

Chú giải (aṭṭhakathā) về NGŨ LỰC như sau :

1/TÍN LỰC (Saddhā bāla) là sức mạnh trong của đức tin, để tịnh giả tiến thẳng vào thánh lưu, kể từ Tu Đà Hườn (Sotāpannassa angāni). Sức mạnh đức tin nầy không phải phát sinh do một niềm tin thường tình, mà phát sinh do chứng đắc, thực nghiệm qua công hạnh thanh tịnh, nên sức mạnh đó không suy giảm.

2/TẤN LỰC (Viriya-bāla = sammā vāyāmo) là sức mạnh chuyên chất của «tứ chánh cần» (samappaddhānā), giúp hành giả không bao giờ thối chuyển trong pháp hành, do bền bĩ nhẫn nại (khantì) và luôn luôn an vui làm đến nơi đến chốn.

Xin nhắc lại «Tứ Chánh Cần» (catu padhānā), mà chúng ta đã thảo luận trước đây là :

-Chuyên cần chế ngự các căn (saŋvara padhāna)

-Chuyên cần xa lìa ác ý (pahāna padhāna)

-Chuyên cần an trú trong pháp thiền (bhāvanā padhāna)

-Chuyên cần giữ giới hạnh (anurakkhanā padhāna). Hay :

-Chuyên cần tiêu trừ pháp ác đã và đang có

-chuyên cần ngăn ngừa pháp ác chưa có

-Chuyên cần phát triển pháp thiện đã và đang có

-Chuyên cần làm sinh khởi các pháp thiện chưa có.

Danh từ Pali «Sammà-padhàna», tuy thường đươc dịch là «chánh cần», nhưng nó còn có các nghĩa khác hoàn chỉnh hơn. Đó là ý nghĩa viên dung, làm đến nơi đến chốn, không bỏ dở, làm đến cùng các công hạnh thanh tịnh nói trên.

3/NIỆM LỰC (Sati-bāla) là sức mạnh của chánh niệm (sammàsaṭi). Sức mạnh nầy hằng giữ cho tâm tư hành giả luôn luôn tỉnh thức, tịnh quán, quan sát mà không lệ thuộc vào tư duy, hay phân tích mà không chủ quan (bi sở tri chướng chi phối), Niệm lực ở đây ám chỉ sức mạnh của tâm thức luôn luôn an trú trong Tứ-Niệm-Xứ (catu saṭipaṭṭhāna), gồm niệm thân (kàya anupassanà), niệm thọ (vedanà anupassanà), niệm tâm (citta anupassanà), và niệm pháp (dhamma anupassanà).

*Khi đã thuần thục chánh niệm, và có Chánh Định tiếp theo hổ trợ, thì hành giả chứng thật rằng “thân nầy chỉ là một dạng vô thường của tứ đại hợp tan». Tứ đại hợp tan ở đây ám chỉ sắc pháp, hay thực tại phù du trong một con người đang sống.

Thực tại đó là sự phối hợp nghiệp quả do danh pháp và sắc pháp cấu kết. Phẩm tính chứng thật vô thường đó, sẽ xóa bỏ được thân kiến (Sakàyadiṭṭhi), làm cho tịnh giả càng ngày càng viên tròn «ba-la-mật», để đắc pháp giải thoát nhập lưu (thân kiến), phá tan sợi dây thứ nhất trong 10 sợi dây xiềng xích, bước vào thánh đạo Tu-Đà-Hườn. Thánh Đạo Tu Đà Hườn là tịnh quả đã đoạn trừ được 3 sợi dây trói buộc đầu tiên, là thân kiến, hoài nghi, và giới cấm thủ.

10 sợi dây (Dasa samyojana) ấy, trong kinh thấy có 2 bản, là :

Bản A :

1/Thân kiến (sakkāyadiṭṭhi) : Chấp thân sắc nầy là “ta”,

2/Hoài nghi (vicikicchā) : Nửa tin nửa không, ngờ vực.
3/Giới cấm thủ (sīlabbataparāmāso) : Chấp nghi lễ. -Cũng gọi là mê tín.
4/Tham dục (kāmachando) : Thèm ngũ dục,
5/Ác ý (vyāpādo) : Bất mãn, hay oán hận.
6/Ái sắc (rūparāgo) : Ham sắc dục,
7/Ái vô sắc (arūparāgo) : Ham danh pháp,
8/Ngã mạn (māno) : Tự cao,
9/Trạo cử (uddhaccaŋ) : Phóng túng, kích động,
10/Vô minh (avijjā) : Lẫn lộn, không thấy, không biết đúng sự thật

 

Bản B :

1/Ái cõi dục (kāmarāga) : Thèm ngũ dục
2/Bất mãn, không vừa lòng (paṭigha) : Giận, thấy không đủ,
3/Ngã mạng (māna) : Tự cao
4/Tà kiến (diṭṭthi) : Mê tín, tin tha lực
5/Hoài nghi (vicikicchā) : Vừa tin vừa không, ngờ vực.
6/Giới cấm thủ (sīlabbataparāmāso) : Chấp nghi lễ
7/Ái hữu (bhavarāga) : Ôm cứng bản ngã
8/Ích kỷ (issā) : Nhỏ mọn, dễ lúng lúng, dễ lạc hướng
9/Keo kiệt (macchariyā) : Hẹp hòi
10/Vô minh (avijjā) : Lẫn lộn, không thấy, không biết đúng sự thật.

Trong 2 bản kê khai đó, chúng ta thấy các xiềng xích từ 1 đến 9 tương đương nhau, chỉ có vị trí sắp xếp hơi khác nhau thôi. Nhưng xiềng xích thứ 10 vẫn ở vị trí chót. Nghĩa là vô minh là xiềng xích sau cùng khó chặt đứt nhất.

*Và Chứng thật vô thường ở đây cũng hàm ý : Nhờ toàn tịnh (jhàna) trong niệm thân và niệm thọ, mà tâm hành giả thấy được thân mình đang sinh diệt từng giây từng phút, chứ không phải nhờ đọc sách, hay nhờ quan sát sự thay đổi bên ngoài, như ở làn da, màu tóc, hay ngoại cảnh  Nhờ đó hành giả thấy được trạng thái của tâm, và đắc Pháp.

*Niệm lực nầy vốn là kết quả của «pháp thứ bảy» trong Bát Chánh Đạo, gọi là Chánh niệm (sammàsaṭi) !

Theo Vi Diệu Pháp hay A Tỳ Đàm (Abhidhamma), Tứ đại hợp tan vừa nêu trên, tượng trưng cho pháp hành 28 sắc pháp, gồm 4 sắc pháp nguồn gốc và 24 sắc pháp biến hóa (từ 4 sắc pháp nguồn gốc kia).  

4 sắc pháp nguồn gốc  là :

THỔ ĐẠI *(chỉ chung những vật thô tế, hữu thể, cứng mềm),

THỦY ĐẠI* (chỉ chung những vật lỏng, kết và phân, hợp và tan),

HOẢ ĐẠI* (chỉ chung những vật nóng lạnh, phù trầm, nở teo),

KHÍ ĐẠI*(=PHONG), (chỉ chung những «vật trống» động hay tĩnh).

-Chú  ý : ĐẠI* ở đây ngoài cái nghĩa thông thường là «lớn», nó còn ám chỉ «có mặt khắp cùng».

24 sắc pháp biến hóa gồm các loại a, b, c như sau :

a/ 10 Sắc căn sinh (Upàdàyarùpam) :

1/Sắc thần kinh (Pàsàdarùpa) : Thần kinh ngũ quan cảm giác.

2/Sắc cảnh giới (Gocararùpa) : Sắc, thinh, hương, vị, xúc.

3/Sắc giới tính (Bhàvarùpa) : Nam hay nữ.

4/Sắc động cơ (Hadayavatthu) : Quả tim.

5/Sắc mạng quyền (Jìvitindriyarùpa) : Sắc hóa hợp, làm chuyển diệt.

6/Sắc vật thực (Àhàrarùpa) : Sắc nuôi dưỡng trong và ngoài.

7/Sắc hư không (Paricchedarùpa) : Sắc khí quyển.

8/Sắc phát biểu (Vinnànarùpa) : Sắc thuộc về thân khẩu.

9/Sặc dung hợp (Vikàrarùpa) : Nặng nhẹ, nhu cương, thuận nghịch, đủ thiếu, quân bình và bất quân bình.

10/Sắc tướng (Lakkhanarùpa) : Sinh, trụ, hoại, diệt.

 

b/ -6 Sắc hành nghiệp (Kammaja), còn gọi là sắc tụ hoạt :

1/Nhãn hoạt (Cakkhidasakalàpa) : Sắc hoá hợp trong mắt.

2/Nhĩ hoạt (Sotadasakalàpa) : Sắc hóa hợp trong tai.

3/Tỷ hoạt (Ghànadasakalàpa) : Sắc hoá hợp trong mũi.

4/Thiệt hoạt (Jìvhàdasakalàpa) : Sắc hóa hợp trong lưỡi.

5/Thân hoạt (Kàyadasakalàpa) : Sắc hóa hợp trong da.

6/Tâm hoạt (Vatthudasakamlàpa) : Sắc biến trong tâm cảnh.

 

    c/ -8 Sắc vô đoàn (Avaggarùpa), còn gọi là sắc cá biệt :

1-Sắc oai nghi (Cittaja) : Sắc làm đi đứng, nằm, ngồi.

2-Sắc âm dương (Utusamutthàna) : Sắc biến ra âm hay dương.

3-Sắc hợp (Ojàsankhàta) : Sắc thích ứng với giác và tri.

4-Sắc tục sinh : Sắc ham sông, hướng cảnh giới tái sinh.

5-Sắc trì : Làm cho bình thường với thời gian và không gian.

6-Sắc tự tác : Làm phát sinh vẻ vô tư, cười, khóc, nói..v.v..

7-Sắc thục : Làm nền tảng cho lộ trình tâm (Cittavìthi).

8-Săc Niết Bàn : Sắc ở trạng thái vắng lặng, tịch tịnh, không biến hành, không kết hợp (Tức là tứ đại siêu việt).

 

4/ĐỊNH LỰC (Samādhi bāla) là sức mạnh của chánh định trong các bậc thiền (jhāna). Chánh định ở đây là nhất tâm mà không mắc dính vào đề mục hay quả thiền, tâm thần không phân tán, chỉ nhất điểm. Tâm an tịnh nơi chính nó, mà không tạo biên cảnh bên ngoài và bên trong. Tâm an trú và với sự hổ trợ của Tuệ Lực, mà nó tự xả ly mọi chướng ngại KHỔ cũng như LẠC, một cách liên tục thanh tịnh, để quan sát ngũ uẩn nơi chính mình. «Sức mạnh chánh định» nầy hằng giúp cho hành giả, khinh an trong cả hai phương diện sinh lý và tâm lý (thân thể và tinh thần). Thiếu khinh an (passaddha), thì sự trong sáng, thanh tịnh của tinh thần sẽ không duy trì được !

*Cũng xin nhắc lại rằng, Bồ-Đề-Phần thứ ba (TỨ-THẦN-TÚC) sở dĩ phát sinh được, là nhờ nhất định, hay toàn định (jhàna) trong chánh thiền. Chánh định hay Toàn định là tâm an trú nơi chính nó. Khi ấy tâm tuy không có cảnh nào khác, ngoài đề mục duy nhất, nhưng nhờ hết phóng ngoại, tâm an trụ nơi chính nó, mà tâm không vướng vào đề mục, không có pháp phân biệt, không còn bị thời gian và không gian hạn chế chi phối. Định lực trong trường hợp nầy vô cùng hùng hậu và vi diệu, Ấy cũng là nguồn gốc của các loại thần thông, như đã nói trong TỨ-THẦN-TÚC.

Đừng hiểu lầm «định» chỉ là khả năng dẻo dai của cân não, có thể bắt tinh thần chăm chú vào một điểm, trong một thời gian tương đối dài ! Khả năng của thần kinh trong một con người vốn có hạn. Vượt giới hạn ấy thì rất hại cho nhân thể. Dồn nén thần kinh để có sức mạnh chăm chú, sẽ bị tẩu hỏa nhập ma, không phải là phương pháp tạo định lực trong đạo Phật !

 

5/TUỆ LỰC (Pañña bāla) là sức mạnh cùa sự trong sáng anh minh và thần trí thanh tịnh (Visuddhi bhāvanā). Trong sáng và thanh tịnh ở đây ám chỉ trí tuệ giải thoát (vimutti bhàvanà), tức là trí tuệ toàn xả, tâm hành không vướng mắc. Nó làm cho hành giả nhận thức vạn pháp ở góc độ nào cũng chân thật, không bị che mờ. Đối với hành giả, sự viên tròn Ba-La-Mật là hạnh sống duy nhất hằng ngày. Quả Thánh vô thượng là sự hoàn toàn giải thoát, chứ không phải là một phẩm vị để mong cầu. Do đó, pháp tướng của TUỆ LỰC là sức mạnh TOÀN XẢ.

oOo

 


 

 NGŨ LỰC khác NGŨ CĂN như  thế  nào ?

 

-Theo kinh điển Pàlì, và căn cứ vào một bản văn rất cổ, có tên là Paṭisambhidā magga (Vô Ngại Giải), thì sự khác biệt nội dung, giữa hai danh từ «NGŨ CĂN» (Indriya) và «NGŨ LỰC» (Bāla) khi đào sâu trong văn học, rất hàm súc và «tế nhị», như sau : 

-Rằng nếu «NGŨ CĂN» ám chỉ năm «khả năng», hay năm quyền thế để định hưóng, để điều động, thì «NGŨ LỰC» ám chỉ năm «sức mạnh», năm vững chắc, và năm sự ổn định, để «thực hiện pháp hành», một cách viên mãn, bảo đãm đến thành công. 

Để có xuất xứ, chúng tôi quay lại bản dịch Việt đoạn kinh Pali trên như sau : 

Tín lực, sức mạnh thông thấu Thánh quả
Tấn lực, sức mạnh chấm dứt hôn trầm thụy miên
Niệm lực, sức mạnh tỉnh thức phá tan quên mình
Định lực, sức mạnh nhất tâm, xả ly ngoại cảnh
Tuệ lực, sức mạnh giải trừ nội ma, tâm cảnh, và vô minh.

Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu hàm nghĩa riêng rẽ của 2 chữ CĂN và LỰC, theo Vô Ngại Giải : 

«CĂN» là một từ ngữ Hán Việt, thông thường có nhiều ngụ ý : CĂN ám chỉ gốc rễ, hay nguồn cội. Nhưng trong nội dung Phật học, «căn ám chỉ hệ thống cảm giác». Mặt khác, căn cũng là năng lực giúp cho mọi sự vật, duyên pháp phối hợp, được tiếp tục duy trì…. -Ví như toàn bộ những gì chôn trong đất giúp cho một thân cây tiếp tục đứng vững. Hay tất cả những gì trong các hệ thống mắt, tai, lưỡi, mũi, thân…khi phối hợp, giúp cho năm giác quan ấy tiếp tục hiện hữu và hoạt động bình thường.

Còn «LỰC» cũng là một từ ngữ Hán Việt khác, ám chỉ sức mạnh trong hoạt động. Sức mạnh ấy khi nằm trong một phối hợp, bị hạn chế bỡi điều kiện, thì LỰC tỷ lệ thuận với khả năng «điều khiển» nó là CĂN.

Nếu chúng ta lấy một cổ xe ngựa làm thí dụ, thì CĂN là viên đánh xe. Phần tử nầy có quyền năng làm cho toàn bộ chiếc xe được duy trì bình thường, và hoạt động hữu hiệu, tức là hoạt động đúng khuynh hướng, như chạy tới chạy lui, quẹo phải rẽ trái….theo ý muốn.

Và LỰC là con ngựa, khi phối hợp với cổ xe, nó có sức mạnh chuyên chở, kéo nổi những trọng lượng khác nhau. Nhưng con ngựa vẫn bị điều kiện hóa bỡi khả năng của người đánh xe, theo tỳ lệ thuận. Nghĩa là nếu người đánh xe là tay rành nghề, thì tốc lực của con ngựa gia tăng, còn ngược lại thì tốc lực ấy bị giảm sút.

Ngày nay hầu hết trên thế giới, người ta không dùng xe ngựa nữa. Người ta chế ra động cơ để dùng, nhưng người ta vẫn lấy mã lực để đo lường sức mạnh của chiếc xe.

Trong pháp hành CĂN và LỰC luôn luôn đi đôi với nhau, như hai mặt của một đồng tiền. Hễ NGŨ CĂN tinh vi, thì NGŨ LỰC cũng tinh vi. NGŨ CĂN thanh tịnh, thì NGŨ LỰC cũng thanh tịnh. Hay hễ NGŨ CĂN siêu việt,  phi phàm, thì NGŨ LỰC cũng siêu việt, phi phàm.

Và xin xác nhận rằng, trong hành đạo Phật giáo, mọi hạnh tu, mọi phẩm cách, đều liên quan, hổ trợ lẫn nhau. Chư tôn đức đã chẳng nói «giới năng sinh định. Định năng sinh tuệ» là gi ? -Ngôn ngữ nhà Phật gọi ấy là tương duyên tương tác.

Khi chúng ta hiểu thấu được lý lẽ «liên quan hổ trợ, tương duyên tương tác» nầy, thì chỉ xuyên qua «trí văn» (cái học thôi), chúng ta cũng có thể phần nào giảm thiểu được những tư duy chấp kiến, hay gạt bỏ những ý tưởng cầm tù tâm thức, vì biết nó dẫn đến bất đồng, gây xung đột cho cá nhân và người khác.

Rồi xuyên qua pháp hành, hay thực nghiệm (tức là đạt trí tư và trí tu), chúng ta mới thấy được rằng, Phật giáo khi áp dụng, luôn luôn tùy duyên tương tác, không có thiện pháp nầy trọng, không có thiện pháp kia khinh, cũng không có pháp nầy thượng căn, hay không có pháp kia hạ trí. Tất cả phải đồng bộ, tùy duyên tương tác, để thực hành và tế độ, chứng đắc cứu cánh.

Kết quả giải thoát cũng vậy. Thành tích tối hậu, vượt ra khỏi luân hồi vốn chỉ có MỘT. Không có cứu cánh nầy hoàn toàn hơn cứu cánh kia. Phật pháp để thực hành vượt ra tam giới vẫn luôn luôn tương hệ. Đã gọi là «giải thoát vô thượng» nếu còn xem là cao thấp, thì quả vị ấy không phải là cứu cánh. Tông phái nào tự cho mình là cao, thì tông phái đã ấy biến thành thấp, trở thành vướng mắc. Tức là tông phái ấy chưa giải thoát nổi thực tại, chưa toàn xả, thì làm sao nói đến việc đạt được giải thoát cuối cùng ?

Càng không có câu chuyện Đức Phật Thích Ca, trải qua 45 năm trường du hành hóa đạo, Ngài đã nói hết những pháp tu thích hợp đến những ai hữu duyên rồi, mà Ngài vẫn «cảm thấy» chưa đủ, phải «giới thiệu» với đại chúng một cảnh giới Phật khác, và khuyên họ «thành tâm» tin tưởng hướng đến, để được cứu rổi (!?).        

Chúng ta không nên quên rằng : Trong Phật giáo, khả năng TỰ ĐỘ là nòng cốt. Và TỰ ĐỘ cũng tức là ĐỘ THA ! Những con đường mà chư Phật đã đi, đều chỉ có MỘT nội dung. Đó là nội dung hành giả tự giải thoát. Nghĩa là con đường hay phương pháp tuy cần thiết, nhưng đôi chân phải bước tới, hay tự lực tu tập mới có kết quả.

Thuở Phật còn tại thế, lần nọ ở trong rừng, Ngài đã cầm một nắm lá, rồi hỏi đệ từ A-Nan-Đa rằng :

-Nầy A-Nan-Đa, lá trong rừng nhiều hay lá trong tay Như Lai nhiều ?

-Bạch Thế Tôn, lá trong rừng nhiều !

-Vậy thì những giáo pháp Như Lai nói ra, ví như lượng lá trong tay, (vì nó cần thiết và hữu ích thực tế). -Còn những gì Như Lai biết, mà không nói, ví như lá trong rừng (vì nó chẳng cần thiết, và đối với thực tại phàm nhân, không hữu ích) !

Trong kinh, chúng ta cũng tìm thấy nhiều chỗ, đức Phật đã tránh nói đến cảnh giới Niết Bàn, họặc một cõi cực lạc siêu hình, con người không tự tu hành, chỉ cầu cứu cũng có tha lực đến rước. Điều nầy vị nào từng tham khảo các sách vở Phật học đều biết.

Nhắc lại thuật sự «nắm lá» trên đây, chứng tôi chỉ xin thành tâm lưu ý rằng, không một giáo lý nào trong 84.000 pháp môn do đức Phật để lại, mà có thể xem là dư thừa, hay có thể bị thời gian làm cho lỗi thời, hết hiệu lực cứu khổ.

Mặt khác, «Giáo lý» hoàn toàn khác với «văn tự». -“Giáo lý” là cái gì soi sáng, mà con người có thể hiểu được để sống đạo, tự mình tiến hóa. Còn «văn tự» chỉ là sản phẩm do người phàm đặt ra, để làm phương tiện thông tin. Khi thông tin, mà đủ duyên, thì người nghe mới đến gần giáo lý, còn nếu thiếu duyên thì họ bị lạ xac. Phương tiện thông tin đó ví như con dao hai lưỡi. Nó có thể giúp thín,h giả tiếp cận, và nó cũng có thể làm cho họ cách ly.

Và NGŨ LỰC chính là cái sức mạnh vô song, giữ cho hành giả sống mãi trong Thánh đạo, luôn luôn trau dồi phạm hạnh, cho đến khi viên tròn công phu.

________________

Yếu kinh Pàlì (Pañca Bàla, NGŨ LỰC) để tụng :

   «-Saddhā bālassa assaddhiye akampiy‘aṭṭho abhiññeyyo,

                -Viriya bālassa kosajje akampiy‘aṭṭho abhiññeyyo,

                -Sati bālassa pamāde akampiy‘aṭṭho abhiññeyyo,

                -Samādhi bālassa uddhacce akampiy‘aṭṭho abhiññeyyo,

                -Paññā bālassa avijjāya akampiy‘aṭṭho abhiññeyyo».

Nghĩa Việt :

Tín lực, sức mạnh thông thấu Thánh quả.

Tấn lực, sức mạnh chấm dứt hôn trầm thụy miên

Niệm lực, sức mạnh tỉnh thức phá tan quên mình

Định lực, sức mạnh nhất tâm, xả ly ngoại cảnh

Tuệ lực, sức mạnh trừ tuyệt tâm cảnh và vô minh.

 

(Phật thuyết tại Trúc Lâm Tịnh xá, Vương Xá thành).

______________________

Bảng ngữ vựng Pàlì Việt :

 

Saddhà : Đức tin. Tin tưởng vào kinh nghiệm.
Abhinneyyo : Đối trị thành công, trừ tuyệt, pháp hành hiệu quả.
Viriya ; Tinh tấn, siêng năng.
Sati : Niệm, trí nhớ (tỉnh thức biết mình).
Pannà : Trí tuệ. Tâm minh mẫn, sáng suốt.
Bàla : Sức mạnh.
Asiddhiya (A + siddhiya) : Chưa viên dung, bất thành.
Kosajja : Sự lười biếng, dả dượi.
Akampiya (A+ Kampiya) : Không lay chuyển.
Kampiya : Lung lay, không vững vàng.
Appamàda : Sự thận trọng.
Pamàda : Tính cẩu thả, tật hay quên.
Uddhacca : Sự phóng tâm, tình trạng trạo cử, sự kích thích.
 

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS