Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille

NGŨ CĂN

Bài giảng ngày 23/04/2012

Bồ Đề Phần thứ IV : 

NGŨ CĂN (Pañcindriyāni)

hay ngũ quyền, gồm 5 quyền năng :

 

1- Tín căn, quyền năng của đức tin (Saddhā indriya)

2- Tấn căn, quyền năng của tinh tấn (Viriyā indriya)

3- Niệm căn, quyền năng của chánh niệm (Saṭi indriya)

4- Định căn, quyền năng của chánh định (Samādhi indriya)

5- Tuệ căn, quyền năng của sự trong sáng, do toàn xả (Pañña indriya).

 

Kinh điển :

Bồ Đề Phần thứ IV nầy dựa theo kinh Indriya-bhāvanā sutta.

(Tạm dịch là «Kinh thanh tịnh ngũ căn, nhất định ý căn»)

 

Cư sĩ TL chuyển ra Việt văn và tham khảo các bản dịch Anh ngữ 

của Ngài Thānissāro. Cũng như chú giải của Piya Tan.

(Quí vị nào biết tiếng Anh có thể đọc thêm 2 bản nầy, trên internet).


Nguồn tham khảo :
- Majjhima Nikàya số 152  (Trung Bộ Kinh số 152 )

 

Phần Thanh Tịnh Các Căn.

Yếu văn Pàlì :

                 «-Saddh’indriyassa adhimokkho aṭṭho abhiññeyyo,

                   -Viriy’indriyassa paggah’aṭṭho abhiññeyyo,

                   -Sat’indriyassa upaṭṭhān’aṭṭho abhiññeyyo,

                   -Samādh’indriyassa avikkhep’aṭṭho abhiññeyyo,

                   -Paññ’indriyassa dassan’aṭṭho abhiññeyyo». 

Nghĩa  Việt:

Tín căn định hướng đến Thánh Đạo
Tấn căn, sức đẩy lên Thánh quả
Niệm căn giảì trừ lậu hoặc, thông suốt Thánh Lý
Định căn nhất điểm, trực chỉ Thánh Lưu
Tuệ căn xả thông, viên tròn Thánh Trí 

(Phật thuyết tại Trúc Lâm Tịnh xá, Vương Xá thành).

 

A.- Phần Phật giảng (dịch ra Việt ngữ) : 

Tôi (A-Nan-Đa) đã nghe như vầy : Một lần nọ, đức Phật ngụ tại Trúc Lâm Tịnh Xá, trước đông đảo thính chúng đến từ Kajjangala. Khi ấy có thanh niên bà-la-môn tên Uttara, đồ đệ của Parasiri, đến gặp Phật. Sau khi chào kính thân hữu, và ngồi sang một bên. 

Phật (hỏi chuyện) thanh niên Uttara : 

-Nầy Uttara, thầy bà-la-môn Parasiri có dạy chư đệ tử phát triển các căn không ?

-Có, thưa Ngài Cồ Đàm. 

-Vậy ông ấy dạy phát triển các căn như thế nào ?

-Thưa, như trường hợp, một người mắt thấy hình sắc, tai nghe âm thanh..….nhưng khi định tâm, thì họ có khả năng không còn thấy, không còn nghe biết gì cả. 

-Nầy Uttara, như vậy theo ông Parasiri, người mù mắt không thấy hình sắc, và người điếc tai không nghe âm thanh, tức là họ «đã» phát triển (2 khả  năng ấy) rồi chăng ? 

Nghe như thế, thanh niên bà-la-môn Uttara liền ngồi im, cuối đầu, vai hạ xuống, không còn lời lẽ gì nữa. 

Thấy Uttara ngồi yên, (với trạng thái như thế), Phật bèn hướng đến đại đệ tử A-Nan-Đa : 

-Nầy A-Nan-Đa, sự phát triển các căn, mà thầy bà-la-môn Parasiri, dạy đồ đệ đó là một chuyện. Nhưng sự phát triển khả năng vô song ở các căn, theo phẩm hạnh của bậc cao thương, là một chuyện khác ! 

«-Đây là lúc, bạch Đức Thế Tôn, bậc chỉ rõ chánh đạo, Xin Ngài nói ra pháp phát triển khả năng các căn một cách vô song, theo phẩm hạnh cao thượng. Chư tỳ khưu (chúng đệ tử), sau khi nghe, sẽ ghi nhớ !»

-Nầy A-Nan-Đa, hãy lắng nghe, Như Lai sắp nói pháp đây !

«-Xin vâng, bạch Thế Tôn », A-Nan-Đa đáp lời Phật.

Phật nói : 

-Nầy A-Nan-Đa ! Trong pháp hành của bậc cao thượng, có sự thanh lọc để phát triển và vận dụng khả năng các căn như thế nào ? 

1/-Trường hợp khi một tỳ khưu mắt thấy hình sắc, khởi lên điều hài lòng, điều không hài lòng, và điều vừa hài lòng vừa không hài lòng. 

Tỳ khưu ấy nhận rõ : 

-Rằng “Sự hài lòng nầy khởi lên trong ta. Sự không hài lòng kia khởi lên trong ta. Sự hài lòng nầy và không hài lòng kia khởi lên trong ta”. 

-Rằng “Đó là pháp phối hợp, duyên theo trần cảnh, ô nhiễm, phàm tục, tùy thuộc lẫn nhau”. (Do nhân duyên cấu kết). Và đây là an tịnh, đây là tốt đẹp, đây là toàn XẢ. Nghĩa là bình đẳng (bằng nhau, an nhiên, tự tại). 

-Với pháp thanh lọc để phát triển vô song nhãn căn như thế, sự khởi lên hài lòng, không hài lòng, (hay) hài lòng và không hài lòng (đều sẽ) chấm dứt (một cách dễ dàng). Nhanh như một người có đôi mắt tốt, khép kín rồi mở ra vậy. 

-Tức là, đối với bất cứ sự sinh khởi nào (trong nhãn căn), vị tỳ khưu đã thanh lọc để phát triển, cũng có khả năng nhận thấy ba loại cảm thọ ấy dừng lại dễ dàng, nhanh chóng, không bị trở ngại (vì lý do gì cả), để nhường chỗ cho tịnh xả. 

-Thiền pháp nầy của bậc (giác ngộ) cao thượng, gọi là thanh lọc để phát triển nhãn căn, đối với các hình sắc mà đôi mắt có thể tiếp nhận.

oOo

 

2/*-Xa hơn nữa, trường hợp một tỳ khưu, tai nghe âm thanh, khởi lên điều hài lòng, điều không hài lòng, hay điều vừa hài lòng vừa không hài lòng. 

Tỳ khưu ấy nhận rõ : 

-Rằng “Sự hài lòng nầy khởi lên trong ta. Sự không hài lòng kia khởi lên trong ta. Sự hài lòng nầy và không hài lòng kia khởi lên trong ta”. 

-Rằng “Đó là pháp phối hợp, duyên theo trần cảnh cảnh, ô nhiễm, phàm tục, tùy thuộc lẫn nhau”.(Do nhân duyên cấu kết). Và đây là an tịnh, đây là tốt đẹp, đây là toàn XẢ. Nghĩa là bình đẳng (bằng nhau, an nhiên, tự tại). 

-Với pháp thanh lọc để phát triển vô song nhĩ căn như thế, sự khởi lên hài lòng, không hài lòng, (hay) hài lòng và không hài lòng (đều sẽ) chấm dứt (một cách dễ dàng). Nhanh như một người có đôi mắt tốt, khép kín rồi mở ra vậy. 

-Tức là, đối với bất cứ sự sinh khởi nào (trong nhĩ căn), vị tỳ khưu (đã thanh lọc để phát triển, cũng có khả năng nhận thấy ba loại cảm thọ ấy) dừng lại dễ dàng, nhanh chóng, không bị trở ngại (vì lý do gì cả), để nhường chỗ cho tịnh xả. 

-Thiền pháp nầy của bậc (giác ngộ) cao thượng, gọi là thanh lọc để phát triển nhĩ căn, đối với các âm thanh mà hai tai có thể tiếp nhận.

oOo 

3/*-Xa hơn nữa, trường hợp một tỳ khưu, mũi ngưởi mùi, khởi lên điều hài lòng, điều không hài lòng, hay điều vừa hài lòng vừa không hài lòng. 

Tỳ khưu ấy nhận rõ : 

-Rằng “Sự hài lòng nầy khởi lên trong ta. Sự không hài lòng kia khởi lên trong ta. Sự hài lòng nầy và không hài lòng kia khởi lên trong ta”. 

-Rằng “Đó là pháp phối hợp, duyên theo trần cảnh, ô nhiễm, phàm tục, tùy thuộc lẫn nhau”.(Do nhân duyên cấu kết). Và đây là an tịnh, đây là tốt đẹp, đây là toàn XẢ. Nghĩa là bình đẳng (bằng nhau, an nhiên, tự tại). 

-Với pháp thanh lọc để phát triển vô song tỷ căn như thế, sự khởi lên hài lòng, không hài lòng, (hay) hài lòng và không hài lòng (đều sẽ) chấm dứt (một cách dễ dàng). Nhanh như một người có đôi mắt tốt, khép kín rồi mở ra vậy. 

-Tức là, đối với bất cứ sự sinh khởi nào (trong tỷ căn), vị tỳ khưu đã thanh lọc để phát triển, cũng có khả năng nhận thấy ba loại cảm thọ ấy dừng lại dễ dàng, nhanh chóng, không bị trở ngại (vì lý do gì cả), để nhường chỗ cho tịnh xả. 

-Thiền pháp nầy của bậc (giác ngộ) cao thượng, gọi là thanh lọc để phát triển tỷ căn, đối với các mùi mà lỗ mũi có thể tiếp nhận.

oOo 

4/*-Xa hơn nữa, trường hợp một tỳ khưu, lưỡi nếm vị, khởi lên điều hài lòng, điều không hài lòng, hay điều vừa hài lòng vừa không hài lòng.. 

Tỳ khưu ấy nhận rõ : 

-Rằng “Sự hài lòng nầy khởi lên trong ta. Sự không hài lòng kia khởi lên trong ta. Sự hài lòng nầy và không hài lòng kia khởi lên trong ta”. 

-Rằng “Đó là pháp phối hợp, duyên theo trần cảnh, ô nhiễm, phàm tục, tùy thuộc lẫn nhau”.(Do nhân duyên cấu kết). Và đây là an tịnh, đây là tốt đẹp, đây là toàn XẢ. Nghĩa là bình đẳng (bằng nhau, an nhiên, tự tại). 

-Với pháp thanh lọc để phát triển vô song thiệt căn như thế, sự khởi lên hài lòng, không hài lòng, (hay) hài lòng và không hài lòng (đều sẽ) chấm dứt (một cách dễ dàng). Nhanh như một người có đôi mắt tốt, khép kín rồi mở ra vậy. 

-Tức là, đối với bất cứ sự sinh khởi nào (trong thiệt căn), vị tỳ khưu đã thanh lọc để phát triển, cũng có khả năng nhận thấy ba loại cảm thọ ấy) dừng lại dễ dàng, nhanh chóng, không bị trở ngại (vì lý do gì cả), để nhường chỗ cho tịnh xả. 

-Thiền pháp nầy của bậc (giác ngộ) cao thượng, gọi là thanh lọc để phát triển thiệt căn, đối với các vị mà cái lưỡi có thể tiếp nhận.

oOo 

5/*-Xa hơn nữa, trường hợp một tỳ khưu, thân đụng chạm, khởi lên điều hài lòng, điều không hài lòng, hay điều vừa hài lòng vừa không hài lòng. 

Tỳ khưu ấy nhận rõ : 

-Rằng “Sự hài lòng nầy khởi lên trong ta. Sự không hài lòng kia khởi lên trong ta. Sự hài lòng nầy và không hài lòng kia khởi lên trong ta”. 

-Rằng “Đó là pháp phối hợp, duyên theo trần cảnh, ô nhiễm, phàm tục, tùy thuộc lẫn nhau”.(Do nhân duyên cấu kết). Và đây là an tịnh, đây là tốt đẹp, đây là toàn XẢ. Nghĩa là bình đẳng (bằng nhau, an nhiên, tự tại). 

-Với pháp thanh lọc để phát triển vô song thân căn như thế, sự khởi lên hài lòng, không hài lòng, (hay) hài lòng và không hài lòng (đều sẽ) chấm dứt (một cách dễ dàng). Nhanh như một người có đôi mắt tốt, khép kín rồi mở ra vậy. 

-Tức là, đối với bất cứ sự sinh khởi nào (trong thân căn), vị tỳ khưu đã thanh lọc để phát triển, cũng có khả năng nhận thấy ba loại cảm thọ ấy) dừng lại dễ dàng, nhanh chóng, không bị trở ngại (vì lý do gì cả), để nhường chỗ cho tịnh xả. 

-Thiền pháp nầy của bậc (giác ngộ) cao thượng, gọi là thanh lọc để phát triển thân căn, đối với các vị mà làn da có thể tiếp nhận.

oOo 

6/*-Xa hơn nữa, trường hợp một tỳ khưu, tâm tư nghĩ tưởng về tâm cảnh hay ngoại cảnh, (rồi ở đó) khởi lên điều hài lòng, điều không hài lòng, hay điều vừa hài lòng vừa không hài lòng. 

*Tỳ khưu ấy nhận rõ :

-Rằng “Sự hài lòng nầy khởi lên trong ta. Sự không hài lòng kia khởi lên trong ta. Sự hài lòng nầy và không hài lòng kia khởi lên trong ta”. 

-Rằng “Đó là pháp phối hợp,duyên theo trần cảnh, ô nhiễm, phàm tục, tùy thuộc lẫn nhau”.(Do nhân duyên cấu kết). Và đây là an tịnh, đây là tốt đẹp, đây là toàn XẢ. Nghĩa là bình đẳng (bằng nhau, an nhiên, tự tại). 

*Với pháp thanh lọc để phát triển vô song ý căn như thế, sự khởi lên hài lòng, không hài lòng, (hay) hài lòng và không hài lòng (đều sẽ) chấm dứt (một cách dễ dàng). Nhanh như một người có đôi mắt tốt, khép kín rồi mở ra vậy. 

*Tức là, đối với bất cứ sự sinh khởi nào (trong ý căn), vị tỳ khưu đã thanh lọc để phát triển, cũng có khả năng nhận thấy ba loại cảm thọ ấy) dừng lại dễ dàng, nhanh chóng, không bị trở ngại (vì lý do gì cả), để nhường chỗ cho tịnh xả. 

*Thiền pháp nầy của bậc (giác ngộ) cao thượng, gọi là thanh lọc để phát triển ý căn, đối với các cái biết mà tâm thức có thể tiếp nhận và câu hữu.

-ooOoo- 

+Và như thế nào là pháp hành cao thượng của một (tỳ khưu) phát triển khả năng các căn ? 

+a/Trường hợp….. Khi một tỳ khưu mắt thấy hình sắc rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòng và không hài lòng. Tỳ khưu ấy nhận thấy thấp hèn, đáng kinh sợ, đáng xấu hổ, đáng cách ly (xả bỏ), trước các điều hài lòng, điều không hài lòng, điều vừa hài lòng vừa không hài lòng. 

+b/Khi một tỳ khưu tai nghe âm thanh rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòng và không hài lòng. Tỳ khưu ấy cảm thấy thấp hèn, đáng kinh sợ, đáng xấu hổ, đáng cách ly (xả bỏ), trước các điều hài lòng, điều không hài lòng, điều vừa hài lòng vừa không hài lòng. 

+c/Khi một tỳ khưu mũi ngửi mùi rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòng và không hài lòng. Tỳ khưu ấy cảm thấy thấp hèn, đáng kinh sợ, đáng xấu hổ, đáng cách ly (xả bỏ), trước các điều hài lòng, điều không hài lòng, điều vừa hài lòng vừa không hài lòng. 

+d/Khi một tỳ khưu lưỡi nếm vị, rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòng và không hài lòng. Tỳ khưu ấy cảm thấy thấp hèn, đáng kinh sợ, đáng xấu hổ, đáng cách ly (xả bỏ), trước các điều hài lòng, điều không hài lòng,  điều vừa hài lòng vừa không hài lòng. 

+e/Khi một tỳ khưu thân tiếp xúc, rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòng và không hài lòng. Tỳ khưu ấy cảm thấy thấp hèn, đáng kinh sợ, đáng xấu hổ, đáng ghê tởm, trước các điều hài lòng, điều không hài lòng, điều vừa hài lòng vừa không hài lòng. 

+f/Khi một tỳ khưu tư duy, tâm phóng đến ý cảnh hay ngoại cảnh, rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, và điều vừa hài lòng vừa không hài lòng. Tỳ khưu ấy cảm thấy thấp hèn, đáng kinh sợ, đáng xấu hổ, đáng cách ly (xả bỏ), trước các điều hài lòng, điều không hài lòng, điều vừa hài lòng vừa không hài lòng ấy. 

+Đây là những cách sống được huấn luyện, phát triển thanh tịnh trong đạo hạnh cao thượng.

-ooOoo-

 

°Và như thế nào trong đạo cao thượng, một tỳ khưu vận dụng các căn  (sau đã khi thanh lọc và phát triển khả năng) ? 

°-1/ Trường hợp, khi một tỳ khưu bình thường mắt thấy hình sắc, rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòng lẫn không hài lòng…..trong thọ uẩn. 

Và  nếu tu tập, ông có thể :

a/Thản nhiên nhìn thực tại hình sắc không thích hợp, thay vì nên nhìn thực tại thích hợp.

b/Thản nhiên nhìn thực tại hình sắc thích hợp, và cũng không tránh nhìn thực tại không thích hợp.

c/Thản nhiên nhìn thực tại hình sắc không thích hợp, thích hợp, và thản nhiên nhìn cả hai.

d/Thản nhiên nhìn thực tại hình sắc thích hợp, không thích hợp, và thản nhiên nhìn cà hai. 

Nghĩa là trước tất cả các thực tại thị giác không đáng thích, đáng thich, và cả hai, vị tỳ khưu ấy nhờ tu tập, vẫn tự tại, hỷ xả, bình đẳng, giác tỉnh, và định tâm. 

°-2/ Tương tự như thế, khi một tỳ khưu, tai nghe âm thanh, rồi khởi sinh điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòng lẫn không hài lòng…, trong thọ uẩn 

Và nếu tu tập, ông cũng có thể :

a/Thản nhiên trước thực tại âm thanh, không thích hợp, thay vì phải là thực tại thích hợp.

b/Thản nhiên trước thực tại âm thanh, thích hợp, cũng không tránh đối diện thực tại âm thanh không thích hợp.

c/Thản nhiên trước thực tại âm thanh, không thich hợp, thích hợp, và thản nhiên trước cả hai thực tại.

d/Thản nhiên trước thực tại âm thanh, thích hợp, không thích hợp, và thản nhiên trước cả ha thực tại. 

Nghĩa là trước tất cả các thực tại thính giác không đáng thích, đáng thích, và trước cả hai, vị tỳ khưu ấy nhờ tu tập, vẫn hỷ xả, bình đẳng, giác tỉnh, và định tâm. 

°-3/ Trường hợp, khi một tỳ khưu bình thường mũi ngưởi mùi, rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòng lẫn không hài lòng…..trong thọ uẩn. 

Và  nếu tu tập, ông cũng có thể :

a/Thản nhiên trước thực tại mùi không thích hợp, thay vì nên ngửi thực tại mùi thích hợp.

b/Thản nhiên trước thực tại mùi thích hợp, và cũng không tránh ngửi mùi không thích hợp.

c/Thản nhiên trước thực tại mùi không thích hợp, thích hợp, và thản nhiên trước cả hai.

d/Thản nhiên trước thực tại mùi thích hợp, không thích hợp, và thản nhiên trước cà hai. 

Nghĩa là trước tất cả các thực tại khứu giác không đáng thích, đáng thich, và cả hai, vị tỳ khưu ấy nhờ tu tập, vẫn tự tại, hỷ xả, bình đẳng, giác tỉnh, và định tâm. 

°-4/ Tương tự như thế, khi một tỳ khưu, lưỡi nếm vị, rồi khởi sinh điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòng lẫn không hài lòng…. trong thọ uẩn 

Và nếu tu tập, ông cũng có thể :

a/Thản nhiên trước thực tại vị, không thích hợp, thay vì phải là thực tại vị thích hợp.

b/Thản nhiên trước thực tại vị, thích hợp, cũng không tránh đối diện thực tại vị không thích hợp.

c/Thản nhiên trước thực tại vị, không thich hợp, thích hợp, và thản nhiên trước cả hai thực tại.

d/Thản nhiên trước thực tại vị, thích hợp, không thích hợp, và thản nhiên trước  cả ha thực tại. 

Nghĩa là trước tất cả các thực tại vị giác không đáng thích, đáng thích, và cả hai, vị tỳ khưu ấy nhờ tu tập, vẫn hỷ xả, bình đẳng, giác tỉnh, và định tâm. 

°-5/ Trường hợp, khi một tỳ khưu bình thường da cảm xúc, rồi phát khởi điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòng lẫn không hài lòng…..trong thọ uẩn. 

Và  nếu tu tập, ông có thể :

a/Thản nhiên trước thực tại cảm xúc không thích hợp, thay vì thực tại thích hợp.

b/Thản nhiên trước thực tại thích hợp, và cũng không tránh thực tại không thích hợp.

c/Thản nhiên trước thực tại không thích hợp, thích hợp, và thản nhiên trước cả hai.

d/Thản nhiên trước những thực tại cảm xúc thích hợp, không thích hợp, và thản nhiên trước cà hai. 

Nghĩa là trước tất cả các thực tại xúc giác không đáng thích, đáng thich, và cả hai, vị tỳ khưu ấy nhờ tu tập, vẫn tự tại, hỷ xả, bình đẳng,  giác tỉnh, và định tâm. 

°-6/ Tương tự như thế, khi một tỳ khưu, tâm nghĩ tưởng, rồi khởi sinh điều hài lòng, điều không hài lòng, điều hài lòng lẫn không hài lòng…, trong thọ uẩn.   

Và nếu tu tập, ông cũng có thể :

a/Thản nhiên trước ý nghĩ, do sắc-thinh-hương-vị-xúc lưu lại, không thích hợp, thay vì phải là ý nghĩ thích hợp.

b/Thản nhiên trước ý nghĩ, do sắc-thinh-hương-vị-xúc lưu lại, thích hợp, cũng không tránh đối diện ý nghĩ không thích hợp.

c/Thản nhiên trước ý nghĩ, do sắc-thinh-hương-vị-xúc lưu lại, không thich hợp, thích hợp, và thản nhiên trước cả hai ý nghĩ.

d/Thản nhiên trước ý nghĩ, do sắc-thinh-hương-vị-xúc lưu lại, thích hợp, không thích hợp, và thản nhiên trước  cả hai ý nghĩ. 

Nghĩa là trước tất cả các thực tại tư tưởng không đáng thích, đáng thích, và cả hai, vị tỳ khưu ấy nhờ tu tập, vẫn hỷ xả, bình đẳng, giác tỉnh, và định tâm. 

-Đây là cách, một hành giả cao thượng vận dụng các căn, sau khi đã phát triển khả năng thanh tịnh, để TỊNH XẢ, giải thoát.

----

-Như thế, nầy A-Nan-Đa, Như Lai vừa thuyết đến các ông sự phát triển vô song các căn trong giáo pháp của bậc cao thượng. 

-Việc một vị thầy nên làm là cống hiến pháp hữu ích đến các hàng đệ tử, bằng tâm từ bi. Kìa, ngoài kia là những gốc cổ thụ, những nơi trống vắng, yên tĩnh….để hành thiền ! 

-Nầy A-Nan-Đa, hãy thực hành thiền định (jhàna). Đừng dễ duôi. Đừng để về sau hối tiếc thời gian. Đó là thông điệp của Như Lai gởi đến tất cả thính chúng !  

Liền đó, đại đức A-Nan-Đa gương mặt rạng rỡ, (tỏ ra) đầy lòng biết ơn, và nói : «Bạch Đức Thế Tôn, đệ tử tràn ngập hân hoan trong những lời dạy của Ngài». 

Dứt phần dịch Phật giảng.

_______________

 

B.- Phụ giải về NGŨ CĂN (PAÑCINDRIYĀNI).

Còn gọi là «Ngũ Quyền» hay 5 khả năng, gồm : 

                          -TÍN CĂN (Saddhindriyaŋ).

                             -TẤN CĂN (Viriyindriyaŋ).

                             -NIỆM CĂN (Saṭindriyaŋ).

                             -ĐỊNH CĂN (Samādhindriyaŋ).

                             -TUỆ CĂN (Paññindriyaŋ). 

1/TÍN CĂN : Quyền năng của đức tin trong tinh thần thanh tịnh, toàn định. Nghĩa là tin vào sự thông suốt pháp hành và thực chứng. 

Liên quan đến tín căn hay quyền lực của đức tin, kinh Surakāṇi (S 55.24/75 :377) và sách Ngài Ledi SAYADAW có đề cập đến 3 loại đức tin như sau : 

a-Tin vì lòng sùng bái (Pakati saddhā), như tin kính nơi Tam Bảo, tin tưởng vào nghiệp lành có quả thiện, nghiệp ác có quả ác. Tin oai lực chư Phật.

b-Tin vì thanh tịnh các căn (visuddhindriya saddhā), hay tin vì đã đắc thiền (bhāvanā saddhā). Tức là tự mình đã biết thế nào là an vui trong pháp hành, hay thế nào là toàn định (jhàna).

c-Tin vì được kiểm soát, xác nghiệm và đủ trí tuệ đắc chứng sự thật, dù vi tế sâu xa đến đâu (aveccappasāda saddhā). Đây là loại đức tin mà các tịnh giả và những nhà khoa học thực nghiệm có chung.

 

2/TẤN CĂN : Quyền năng của tinh thần tinh tấn bất thối trên căn bản nhất định, hay toàn tịnh (jhàna). 

*Tấn căn có «Tứ-Chánh-Cần» (catu sammàpadhāna) làm “hậu thuẫn” hành động. Như chúng ta đã từng thảo luận trước đây, «Tứ-Chánh-Cần», ngoài việc ám chi các thực hành thuần thục chuyên cần, như : 

-Chuyên cần chế ngự các căn (saŋvara padhāna)

-Chuyên cần xa lìa ác ý (pahāna padhāna)

-Chuyên cần an trú trong pháp thiền (bhāvanā padhāna)

-Chuyên cần giữ đúng giới hạnh (anurakkhanā padhāna), hay : 

-Chuyên cần tiêu trừ pháp ác đã và đang có

-chuyên cần ngăn ngừa pháp ác chưa có

-Chuyên cần phát triển pháp thiện đã và đang có

-Chuyên cần làm sinh khởi pháp thiện chưa có. 

Chúng ta còn thấy danh từ Pali «Sammà-padhàna», tuy thường đươc dịch là «chánh cần», nhưng nó còn có các nghĩa hoàn chỉnh hơn, như làm đến nơi đến chốn, không bỏ dở, làm đến cùng ….bốn công hạnh thanh tịnh nói trên.

 

3/NIỆM CĂN : Quyền năng của chánh niệm trong Tứ-Niệm-Xứ, nhất là niệm thân và niệm thọ. Khi chánh niệm thuần thục đến mức, từng giây từng phút hành giả thấy rõ sắc thân chỉ là tứ đại biến dạng, ô trược, nơi chứa những thọ cảm hai chiều, phù du, thấp hèn. Đó là «quyền năng» của sự dứt khoát xả bỏ.

 

4/ĐỊNH CĂN : Quyền năng của nhất định (ekaggatà) trong thiền định và trong Tứ Niệm Xứ, nhất là nhất định trong niệm tâm và niệm pháp thuần thục đến mức, từng sát-na hành giả tâm nhất định nơi chính nó «thấy» pháp vô nhị, vô biên, không đối tượng khác, không chi phối bỡi pháp cảnh nào cả. Đó là «quyền năng» của “TRỤ XẢ” trong định căn ! Không có cảnh thứ hai, thì cảnh duy nhất không biên giới.

 

5/TUỆ CĂN : Quyền năng của sự trong sáng, toàn tịnh, thanh khiết vô biên, không còn sự ngăn che nào cả. Trí tuệ ở đây là trí tuệ giải thoát vượt khỏi năm uẩn, 12 xứ, và 18 giới. Bốn đạo bốn quả và Niết Bàn  chỉ là trình tự giải thoát, chứ không phải là mục tiêu mong đợi, mục tiêu gợi cảm, mục tiêu ưa thích, hay quả phúc cầu đạt.  

Ngoài ra, liên quan đến tam độc (tham, sân, si) hay vô minh tà kiến, khi Ngũ Căn đã thanh tịnh, phát triển, vận dụng, thì hành giả sẽ phân biệt rõ, qua sáu “giác quan” (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý) rằng :

Nhãn căn          -Nhìn mà không thấy là vô minh*

                         -Thấy mà thấy sai là tà kiến

                         -Thấy mà ham thích là tham ái

                         -Thấy mà bất mãn là sân hận.

Nhĩ căn             -Nghe mà không hiểu là vô minh*

                        -Nghe mà hiểu sai là tà kiến

                        -Nghe mà thích thú là tham ái

                        -Nghe mà bất mãn là sân hận

Tỷ căn             -Ngửi mà không rõ là vô minh*

                        -Ngửi mà rõ lầm là tà kiến

                        -Ngửi mà thích thú là tham ái

                        -Ngửi mà bất mãn là sân hận

Thiệt căn

                         -Nếm mà không biết là vô minh*

                         -Nếm mà biết lầm là tà kiến

                         -Nếm mà thèm khát là tham ái

                         -Nếm mà bất mãn là sân hận.

Thân căn          -Tiếp xúc mà vô giác là vô minh*

                          -Tiếp xúc mà cảm lầm là tà kiến

                          -Tiếp xúc mà ưa thích là tham ái

                          -Tiếp xúc mà bất mãn là sân hận

Ý căn                 -Nghĩ mà không suy là vô minh*

                           -Nghĩ mà suy lầm là tà kiến

                           -Nghĩ suy mà hài lòng là tham ái

                           -Nghĩ suy mà bất mãn là sân hận. 

Vô minh ở đây tức là si mê.

____________________

 

Yếu văn kinh Pàlì và nghĩa Việt để tụng. 

 

THANH TỊNH CÁC CĂN.

(Majjhima Nikàya 152).

 

Pañca Indriya : NGŨ C ĂN 

                 «-Saddh’indriyassa adhimokkh’aṭṭho abhiññeyyo,

                   -Viriy ‘indriyassa paggah’aṭṭho abhiññeyyo,

                   -Sat’indriyassa upaṭṭhān’aṭṭho abhiññeyyo,

                   -Samādh’indriyassa avikkhep’aṭṭho abhiññeyyo,

                   -Paññ’indriyassa dassan’aṭṭho abhiññeyyo». 

Nghĩa :

Tín căn định hướng đến Thánh Đạo

Tấn căn, sức đẩy đến Thánh quả

Niệm căn giảì trừ lậu hoặc, thông suốt Thánh Lý

Định căn tâm xả, trực chỉ Thánh Lưu

Tuệ căn tinh thông, viên tròn Thánh Trí. 

___________________

 

Bảng ngữ vựng Pàlì Việt : 

Saddhà : Đức tin.

Indriya : Căn hay quyền, tiềm năng.

Viriya : Tinh tấn.

Adhimokkha : Quyết định, hướng về, nhắm đến mục tiêu.

Attha (có chấm dưới 2 chữ t) : Nghĩa lý, nguyên nghĩa (theo khách quan lẫn chủ quan).

Attha (không chấm dưới 2 chữ t) : Sự tới nơi, kết quả, mục đích.

Abhinna : Thông suốt, thần tuệ, siêu năng.

Paggaha : Năng lượng,

Sati : Niệm, tỉnh thức, nhớ biết thực trạng hiện tại.

Upatthàna (Upa + Atthàna) : Siêu nguyên nghĩa.

Upa : Siêu, vượt lên trên

Atthàna : nghĩa

Samàdhi : Thiền  định

Avikkhepa : Quân bình, thanh tịnh, tự tại, an nhiên (=xả).

Pannà : Sự trong sáng, trí tuệ.

Dassana : Thấy.

Dassanatthàna : Thấy chân nghĩa.

_________________

 

 

 

Mise à jour le Vendredi, 15 Juin 2012 14:48  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS