Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille

TỨ THẦN TÚC

 
Bài giảng ngày 16/04/2012)
 
Do nhóm nghiên cứu và thực hành
lời Phật dạy, quận 13 – Paris tổ chức.
 
Bồ Đề Phần thứ III
 

TỨ THẦN TÚC

Tứ thần túc là một thành quả kỳ diệu của hành giả trong thiền định đạo Phật. Hôm nay chúng tôi xin gởi đến quí vị 2 tài liệu:
 
1/ Kinh văn TỨ THẦN TÚC, dịch từ Pàlì ra để đọc, và
2/ Một số chi pháp, được sưu tầm, để soi sang khi thảo luận.  
 
Tuy kinh văn thì lời lẽ rất súc tích, diễn tả ngắn gọn sự thâm mật của thiền định, và từ đó hành giả đạt được những thần lực siêu nhiên, gọi là TỨ THẦN TÚC, nhưng những chi pháp sưu tầm vẫn quan trọng, vì chúng liên quan mật thiết đến ĐỊNH LỰC, nguồn gốc của TỨ THẦN TÚC, -nhất là định lực trong NIỆM THÂN, NIỆM THỌ thuộc Tứ Niệm Xứ, và định lực trong NIỆM TÂM, xuyên qua NĂM UẨN.
 
Trước tiên, chúng ta thử nhắc lại NIỆM THÂN và NIỆM THỌ xuyên qua năm uẩn như thế nào....
 
*Và NIỆM THÂN và NIỆM THỌ là gì ?
 
-NIỆM ở đây có nghĩa “tỉnh thức và nhớ biết”, hay “quy tụ cảm giác một cách thanh tịnh”, tương đương với “định thần”
 
-THÂN là vật chất, hay “thể tướng”, là sắc pháp thấy được.
 
-THỌ là cảm giác, hay “điện tướng”, là danh pháp vô hình, không thể thấy được. Người ta chỉ thấy cảm thọ, khi nó hiển lộ trên khuôn mặt, trên sắc pháp.
 
-SẮC và THỌ là hai uẩn trong năm uẩn.
 
-THÂN và THỌ là 2 mặt biểu lộ của danh và sắc.
 
*Hãy khảo sát DANH SẮC trong NĂM UẨN :
 
-DANH gồm THỌ, TƯỞNG, HÀNH, và THỨC (4 uẩn)
 
-SẮC gồm vật chất (1 uẩn).
 
-SẮC nói chung có 4, là ĐẤT, NƯỚC, LỬA, và KHÍ
 
-Riêng SẮC THÂN của con người chứa đến 32 thể trược.
 
*Đối với sắc thân phàm tục còn sống, cò đủ sáu căn thì :
 
- Sắc ngoại + sắc nội = Thọ (thân và tâm)
- Thọ (thân và tâm) + thức (ý) = Tưởng
- Sắc + thọ (thân và tâm) +  tưởng  =  Hành (hữu lậu)
- Sắc+thọ+tưởng+hành+thức = Nghiệp quả (kamma vipàka).
 
                  -Kamma vipàka = Cittavìthi sankhàrà
                         Nghiệp quả = Pháp hành của chu kỳ tâm thức.
 
*Nhưng sắc thân của các Bậc Thanh Tịnh khi còn sống, thì
- Sắc ngoại + sắc nội = Thọ (chỉ có ở thân)
- Thọ (ở thân) + thức = Hành vi (vô lậu)
- Sắc+thọ+hành vô lậu+thức = Nghiệp (nhưng là nghiệp duy tác).
 
Nghiệp duy tác không có quả.
 
- Đối với các bậc đã thanh tịnh khi chưa hết tuổi thọ, thì sự sống chỉ gồm 4 uẩn mà thôi, không có “tưởng” (-Nói theo ngũ uẩn !). Tức là các Ngài đã hết vô minh, không si mê, hết mắc dính, không còn “ái”, “thủ”, và “hữu” nữa. (-Nói theo thập nhị nhân duyên !).
 
*Từ đó suy ra :
 
-Khi “tưởng” trong năm uẩn đã hoàn toàn thanh tịnh (diệt trị), thì “thọ” chỉ là “tri giác thuần túy vật lý” giữa vật và vật. Trong “thọ ấy” không có thất tình lục dục Hay nói cách khác, “thọ ấy” đã biến thành “xúc thuần túy”, mang tính tự nhiên.
 
-Mà “xúc thuần túy” là tiến trình của “hợp tan”, nên “xúc tự nhiên” thuộc về sắc pháp, hay thuộc về pháp hành của tứ đại.
 
- Cho nên, các bậc đã thanh tịnh, khi tan rã thân “tứ uẩn”, “cảnh giới” còn lại đối với các ngài, chỉ là danh và sắc tùy duyên tan hợp, và thức chỉ là thức khách quan, vô tư, hoàn toàn “độc lập”.
 
- Danh ám chỉ “thức tịch tịnh”, không vọng động, không cấu kết với các sắc bằng cảm tình.
 
- Sắc ám chỉ tứ đại vô biên, tự nhiên biến đổi, hằng vô thường. Sắc luôn luôn có hợp, có tan, và vô dục, nên chỉ có xúc mà không có thọ.
 
- Sắc hữu xúc vô thọ trong trường hợp nầy “có thể” ví như “quy trình lượng tử” (cycle quantique).
 
- Khi sắc tứ đại, hay vũ trụ tố siêu việt (mahàbhùta) mà đủ duyên hành để kết hợp, thì có “xúc”, và hiện ra “hạt” (particule cực vi hay nguyên tố= dhàtu).
 
- Nhưng khi sắc tứ đại nguyên tố toàn tịnh, tận duyên, hết “xúc”,  tan biến, không còn điều kiện để kết hợp, thì chúng hóa thành “sóng” (onde quantique, hay sóng trống không, tức là trở về tứ đại siêu việt, mahàbhùta).
 
-Và “tâm thức thánh nhân tịch tịnh” siêu việt, hoàn toàn vô nhiễm, độc lập, thì phàm nhân không thể nào nghĩ bàn. Khả năng tri thông của chúng ta, ngay cả trước sắc pháp (thô kệch lẫn vi tế = dhàtu) còn không thể biết chắc được, khoan nói đến danh pháp siêu việt !
 
-Huống chi cả danh pháp lẫn sắc pháp, trong ngôn ngữ phàm tình, vốn chỉ là những danh từ chế định, nhị biên, phân chia (như chân danh, tục danh, chân sắc, tục sắc) qui ước, do trí khôn của con người đặt ra để dùng.
 
* Quay lại “nguồn gốc” để đạt tới TỨ THẦN TÚC là thiền định, chúng ta thử đọc lại vài đoạn chính trong kinh văn :
 
+“…….Tỳ khưu thuần thục pháp hành, được định lực hổ trợ, tăng cường sở nguyện (chanda) và luôn luôn chuyên cần, thì biết rằng… ”
 
Sở nguyện nầy không bị lười biếng và bồng bột tràn ngập, không bị nội thân hạn chế, và không bị ngoại cảnh chi phối.
 
Hành giả chứng thật rằng «Không gian trước mặt và sau lưng như nhau (đồng nhất). Những gì ở phía dưới và những gì ở phía trên chẳng khác. Khi pháp hành trong tịnh giả hằng ổn định ngày và đêm, không có chướng ngại (nīvarana), thì chánh nguyện (Samma chanda) tự nó rất hùng hậu, để viên tròn : DỤC THẦN TÚC (hay NGUYỆN như ý túc = Chanda Iddhipàda).
 
+Tương tự như thế, “…Tỳ khưu thuần thục trong pháp hành, được định lực hổ trợ, tăng cường tinh tấn (viriya) và luôn luôn chuyên cần, thì biết rằng .…”
 
Tinh tấn nầy không bị lười biếng và bồng bột tràn ngập, không bị nội thân hạn chế, và không bị ngoại cảnh chi phối.
 
Hành giả chứng thật rằng «Không gian trước mặt và sau lưng như nhau (đồng nhất). Những gì ở phía dưới và những gì ở phía trên chẳng khác. Pháp hành trong tịnh giả hằng ổn định ngày và đêm, không có chướng ngại (nīvarana), thì chánh tinh tấn (sammaviriya) tự nó rất hùng hậu, để viên tròn  TẤN THẦN TÚC (hay Tinh tấn như ý túc =Viriya Iddhipàda).
 
+Tương tự như thế, “…Tỳ khưu thuần thục trong pháp hành, được định lực hổ trợ, tăng cường nhất tâm (ekacitta) và luôn luôn chuyên cần, thì biết rằng …”
 
Tâm tư nầy không bị lười biếng và bồng bột tràn ngập, không bị nội thân hạn chế, và không bị ngoại cảnh chi phối.
 
Hành giả chứng thật rằng «Không gian trước mặt và sau lưng như nhau (đồng nhất). Những gì ở phía dưới và những gì ở phía trên chẳng khác. Pháp hành trong tịnh giả hằng ổn định ngày và đêm, không có chướng ngại (nīvarana), thì chánh tâm (samma citta) tự nó rất hùng hậu, để viên tròn TÂM THẦN TÚC (hay Tư như ý túc = Citta Iddhipàda).
 
+Tương tự như thế, “…Tỳ khưu thuần thục trong pháp hành, được định lực hổ trợ, tăng cường khán lực (vimamsa) và luôn luôn chuyên cần, thì biết rằng :…”
 
Khán lực nầy không bị lười biếng và bồng bột tràn ngập, không bị nội thân hạn chế, và không bị ngoại cảnh chi phối.
 
Hành giả chứng thật rằng «Không gian trước mặt và sau lưng như nhau (đồng nhất). Những gì ở phía dưới và những gì ở phía trên chẳng khác. Pháp hành trong tịnh giả hằng ổn định ngày và đêm, không có chướng ngại (nīvarana), thì chánh khán (samma vimamsa) tự nó rất hùng hậu, để viên tròn : MINH KHÁN THẦN TÚC (hay Khán như ý túc = Vimamsa Iddhipàda).
 
Và kinh văn tiếp theo dưới dạng vấn đáp :
 
*Thế nào là sở nguyện không bị lười biếng tràn ngập ?
-Sở nguyện nào không để cho dễ duôi xen vào, gọi là «không bị lười biếng tràn ngập».
 
*Thế nào là sở nguyện không bị bồng bột tràn ngập ?
-Sở nguyện nào không có vội vàng, cẩu thả, cầu danh lợi xen vào, gọi là không bị bồng bột tràn ngập.
 
*Thế nào là sở nguyện không bị nội thân hạn chế ?
-Sở nguyện nào không bị lừ đừ và buồn ngủ xảy ra, gọi là không bị nội thân hạn chế.
 
*Thế nào là sở nguyện không bị ngoại cảnh chi phối ?
-Sở nguyện nào không bị 5 cảm quan làm cho phân tán (cản trở), gọi là không bị ngoại cảnh chi phối.
 
*Thế nào là nhận thức không gian trước và sau đồng nhất ?
-Khi sự nhận diện không gian trước và sau, được hành giả «trực giác», nhất tâm, thấy rõ, thông suốt, bằng tuệ lực phân biệt vô tư, thì gọi là nhận thức không gian trước sau đồng nhất.
 
*Thế nào là trực nhận và an trú, trong không gian phía dưới, và không gian phía trên… như nhau ?
-Khi hành giả nhận diện chính bản thân mình, từ gót chân lên đỉnh đầu, từ đỉnh đầu xuống gót chân, bao bọc bỡi làn da, và chứa đầy những chất ô trược khác, rằng : Trong thân nầy, có tóc, lông, móng, răng…(kể tiếp cho đủ 32 thể trược).
 
Đây là cách để hành giả trực gìác, an trú, và nhận thức phía trên, và phía dưới… sắc thân đồng nhất…..”
 
*Và kinh văn tiếp nói bằng các đoạn  :
 
“….Khi hành giả phát triển và củng cố liên tục TỨ THẦN TÚC như vậy, họ sẽ tự biết, và chứng nghiệm nhiều siêu lực sau đây :
 
-Phân thân, một hóa thành nhiều. Hợp thân, nhiều hóa thành một. Hiện và biến (hình thể). Di chuyển vô ngại xuyên qua tường, thành lũy, núi, hư không, trong nước và trong đất. An tọa ở bất cứ đâu. Tay chân có thể chạm nhật nguyệt. Tỏa phép lạ lên tận cõi Phạm thiên.
 
Và họ có đầy đủ tứ thần thông, là :
 
1/ THẦN NHĨ THÔNG : Nghe hiểu tất cả các loại ngôn ngữ (người, trời, thú, ma, qủy), ở gần hay ở xa.
 
2/ THA TÂM THÔNG : Biết hết “ý nghĩ” của tất cả chúng sinh, riêng cũng như chung, đồng thời làm cho chúng sinh biết được ý nghĩ của mình. Phân biệt tình cảm và tri thức. Phân biệt thiện cảm và ác cảm. Phân biệt tâm si mê và tâm sáng suốt. Phân biệt kẻ giữ giới và kẻ không giữ giới. Phân biệt tâm mở rộng và tâm hẹp hòi. Phân biệt tâm xuất sắc và tâm tầm thường. Phân biệt tâm an tịnh và tâm bấn loạn. Phân biệt tâm giải thoát và tâm vướng mắc.
 
3/ TÚC MẠNG THÔNG : Nhớ nhiều kiếp quá khứ, từ một đến vô số, rồi đến a-tăng-kỳ kiếp, hay kiếp trái đất và kiếp vũ trụ,. Nhớ hết tên họ, hình dạng, thực phẩm, niềm vui, vòng luân hồi tái sinh như thế nào, của từng kiếp một.
 
4/ THẦN NHÃN THÔNG: Nhìn thấy tất cả vòng sinh tử luân hồi của chúng sanh. Thấy chúng cảnh nào cao thượng hay thấp hèn, đẹp hay xấu, giàu hay nghèo, nghiệp lành hay nghiệp dử. Thấy đủ thân thể, kiến thức, giai cấp xã hội, thấy có chánh kiến hay tà kiến. Chẳng những thấy trước khi chết cảnh như vậy, mà cỏn thấy sau khi chết sẽ đọa lạc vào đâu, hay sẽ tiến hóa lên cõi nào. Thấy chúng sanh tâm thanh tịnh, khi tan rã xác phàm, thì được sinh vào thiên cảnh.
---
TỨ THẦN TÚC nầy là quả lành tuyệt diệu trong hiện tại của thánh tâm toàn định. Vì vậy, hành giả luôn luôn được an ổn, viên mãn trong tri thức hướng đến giải thoát. Các Ngài biết mình đã “an ninh, lành mạnh” như thế nào trong hiện tại, và sau nầy….”
 
Những «thần thông” trên đây phải chăng là những điều hoang đường, tưởng tượng ?
 
Xin thưa rằng : Đứng trên phương diện tập luyện thuần thục, chúng tôi dành quyền nhận xét cho quí vị. Nhưng đứng trên phương diện “pháp hành và kinh nghiệm thần lực”, chúng tôi nghĩ rằng : Khi trạng thái “hữu-vô”, “hiện-biến”, thời gian và không gian không còn là hạn chế hay trở ngại, đối với thần thức của hành giả nữa, thì những điều nêu trên hành giả có thể thực hiện được. –Như kinh văn đã ghi.
 
Còn phương pháp nào, để hành giả tinh luyện thần lực thâm hậu đến mức đó, hầu đạt được kết quả TỨ THẦN TÚC như thế, thì lại là một vấn đề thâm mật khác, trong cái cảnh giới luôn luôn tương đối nầy !
 
Và “TƯƠNG ĐỐI” vốn có nghĩa là “cái gì cũng có thể làm được và cũng không thể làm được !”.
 
Vả lại, NIỆM THÂN và NIỆM THỌ là 2 lãnh vực thiền học trong Phật giáo, chuyên chở những pháp hành “vửa thực tiễn vửa siêu việt” vừa hữu hình vửa vô hình.
 
Rằng khi thiền lực đã đạt đến mức toàn định (jhàna) thù thắng cả thân thể và cảm thọ, thì niệm thể xác và niệm cảm giác sẽ trở thành đồng nhất với niệm tâm lẫn niệm Pháp. Từ đó, TÂM và VẬT không còn là hai lãnh vực, không còn phân biệt khác nhau, không còn ngăn ngại, hạn chế nữa………,  như kinh văn đã nói trên.
 
Và đắc thần thông là gì, nếu không phải là đạt kết quả siêu phàm ? Hành động hết bị ngăn ngại, hay hết bị hạn chế bỡi không gian và thời gian phàm tục ?
 
Chân lý nhà Phật đã chẳng nói với chúng ta rằng : Mọi vật vốn là sắc pháp biến hiện, vô thường, luôn luôn ở hai dạng tương đối, là CÓ và KHÔNG, hay hạt và sóng (particule et onde), được định lực làm cho thuần hướng, lôi kéo, hợp rồi tan, để hoán vị nhau ?!
 
-“HẠT” biểu tượng cho sắc pháp, hay hợp thân, nên nó hữu hính.
-“SÓNG” tượng trưng cho danh pháp, hay tán thân, nên nó vô hình.
-Giữa hữu hình và vô hình chỉ “cách nhau” một thần lực của chánh định mà thôi !
 
Và chứng đạt được tư cách đó là Đại Giác, là Phật vậy !
 
Tuệ Lạc
(26/06/2010)
Mise à jour le Mardi, 12 Juin 2012 13:33  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS