Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home Bài giảngr trên PALTALK TỨ CHÁNH CẦN

TỨ CHÁNH CẦN

Bồ Đề Phần thứ II,

 Những điểm chính của bài giảng (09/04/2012) về

 

TỨ CHÁNH CẦN 

(Catu Samma Padhāna) 

 

Phật thuyết gần sông Nerañjara, đối diện với Ma vương.

 

 Pháp chuyên cần qua 4 phương diện :

        1- Chuyên cần chế ngự các căn (Saṃvara padhàna)

        2- Chuyên cần xa lìa bất mãn, ác ý (Pahāna padhāna)

        3- Chuyên cần an trú trong pháp thiền (Bhāvanā padhāna)

        4- Chuyên cần gìn giữ giới hạnh.(Anurakkhanā padhāna)

 

Tứ chánh cần có 5 pháp nuôi dưỡng, là :

        1- Thiểu dục, ít bị quấy rầy (Appabàdho, có 5 chi*.

        2- Đức tin (Saddhà), có 4 chi*.

        3- Chân thật (Sacca), không dối gạt (Asatho), có 3 chi*.

        4-Tinh tấn bất thối (Araddho viriyo), có 4 chi*.

        5- Minh trí (Paññavā),  có 1 chi*.

 

*Năm chi của thiểu dục là :

                             -Thiểu dục trong sắc

                             -Thiểu dục trong thinh

                             -Thiểu dục trong hương

                             -Thiểu dục trong vị

                             -Thiểu dục trong xúc

 

*Bốn chi của đức tin là :

                           a-Tin nghiệp (gồm nhân, duyên và tác ý hành động)

                           b-Tin quả (kết thành của nghiệp)

                c-Tin chúng sanh có nghiệp quả là của mình.

           d-Tin sự giác ngộ, giải thoát của chư Phật

 

*Ba chi của chân thật là :

-Chân thật, không dối gạt trong giới

-Chân thật, không dối gạt trong định

                           -Chân thật, không dối gạt trong tuệ.

 

Lưu ý : Có 2 danh từ trong Phạn ngữ, là «SACCA» và «ASATHO». Khi dịch ra tiếng Việt, cả 2 đều có nghĩa là «thật», hay «chân thật». Nhưng  khi phân tích, chúng ta lại thấy 2  trường hợp :

 

Trường hợp thứ nhất, «Sacca» ám chỉ sự thật hằng có. Tỷ như cục lửa thì nóng, khối băng thì lạnh, vật nặng thì rơi nhanh xuống đất, mọi trạng thái vui buồn đều bắt con người chịu đựng, mà chịu đựng là khổ dây chuyền..v.v…(như Chân Lý Đầu trong Tứ Diệu Đế).

 

Trường hợp thứ hai, «Asatho» vốn đến từ chữ «Satho». Và satho có nghĩa là dối gạt, cố ý nói hay làm cho người ta hiểu lầm, hiểu sai, hiểu méo mó thực tại». Trên hình thức, «Asatho» có tiếp đầu ngữ «A», mang nghĩa phủ định, hay nghĩa ngược lại. Do đó  «Asatho» tức là «không dối gạt», thành thật.

 

Tóm tắc, một bên «Sacca», ám chỉ sự thật tự nhiên, khách quan, hằng có, còn bên kia «Asatho», ám chỉ sự không dối gạt, sự không cong quẹo, không xử dụng tà ý, sự vô tư lợi trong hành động. Soạn giả xin ghi chú ra đáy, để qúi vị rộng tra cứu. Vì vậy, trong Tứ Diệu Đế, chúng ta thấy từ SACCA, chứ không phải từ ASATHO.

 

*Bốn chi của tinh tấn, bất thối là :

   -Tinh tấn bất thối trong quán thân

                              -Tinh tấn bất thối trong quán thọ

 -Tinh tấn bất thối trong quán tâm

    -Tinh tấn bất thối trong quán pháp

 

                               *Một chi của minh trí là :

-Trực nhận pháp tướng giải thoát, là vô thường, khổ, và vô ngã  chỉ để hướng đến TUỆ XẢ (sáng suốt), chứ không phải để trở thành buồn bã, chán ghét, thất vọng (mất định hướng và mất sáng suốt).

 

Tứ Chánh Cần còn có 9 đức năng (9 padhàniyà) là :

1-Năng giữ giới, do thân và khẩu (kāyavacī sìla padhàniya)

2-Năng hành thiền, do tâm (Citta bhàvanà padhàniya)

3-Năng tịnh ý, do ngoại quán (Ditthi vipassanà padhàniya)

4-Năng cởi trói, do bố thí , buông bỏ (Dàna vimutti padhàniya)

5-Năng giải nghi, do học (Kankhà vitarana padhàniya) 

6-Năng hướng đạo, do hành đạo (Maggà maggañàna padhàniya) 

7-Năng tự độ, do nội quán (Patipadà ñànadassana padhàniya)

8- Năng minh thị, do tỉnh thức (Ñàna dassana padhàniya)

9- Năng tri tuệ, do toàn định (Pañña padhàniya).

 

Ngoài ra, theo chú giải tự vựng trong Áo Nghĩa Thư (Upanishad) viết bằng Sanskrit, thì PADHÀNA còn có nghĩa là «thực hiện hay hành đạo đến nơi đến chốn». Tiếng Hán Việt dịch Padhàna là chuyên cần.

 

Nếu căn cứ theo nguồn thư liệu đó, thì PADHÀNA còn bao hàm ý nghĩa của 2 đặc tánh cụ thể, là dẻo dai và nhẫn nại. Dẻo dai thuộc về thân. Nhẫn nại thuộc về tâm. Kết quả là hành giả thực hiện điều gì cũng làm đến nơi đến chốn, không bỏ dở.

 

Công phu Ba La Mật trong Phật giáo cũng ám chỉ tương tự : Hai đặc tính thân dẻo dai và tâm nhẫn nại mà có mặt thường xuyên trong các lãnh vực hành đạo, thì ấy là một bảo đãm cho sự viên dung, đạt mục đích (đạo quả). Nhất là có công phu «padhàna» trong 4 lãnh vực :

 

           1- Chuyên cần chế ngự các căn (Saṃvara padhàna)

        2- Chuyên cần xa lìa bất mãn, ác ý (Pahāna padhāna)

        3- Chuyên cần an trú trong pháp thiền (Bhāvanā padhāna)

        4- Chuyên cần gìn giữ giới hạnh.(Anurakkhanā padhāna).

 

Bốn chuyên cần nêu trên còn được diễn tả dưới một dạng khác, mà chúng ta đã thường nghe quí thầy và các giảng sư trình bày, như :

 

1/ Chuyên cần phát triển mọi thiện pháp đã và đang có,

2/ Chuyên cần làm khởi sinh mọi thiện pháp chưa có,

3/ Chuyên cần tu tập để tiêu trừ mọi ác pháp đã và đang có, và

4/ Chuyên cần tu tập để ngăn chận mọi ác pháp chưa có.

Kết luận :

Tứ Chánh Cần là 4 pháp thực hành, chứ không phải là bốn lý thuyết. Lý do, vì Tứ Chánh Cần, nếu không đem ra áp dụng trong đời sống hằng ngày (phạm hạnh), thì bốn pháp ấy chẳng có ý nghĩa cụ thể nào cả, nhất là chẳng có ý nghĩa cụ thể, trong sự tu tập để tiến hóa giải thoát khỏi chịu đựng sinh tử. -Cho dù người ta có thể viết «Tứ Chánh Cần» ra thành 1 cuốn sách dày, với tất cả văn tài của người cầm bút.

 

Trong bài giảng về 2 Bồ Đề Phần thứ tư và thứ năm (NGŨ CĂN và NGŨ LỰC), sau nầy, Tứ Chánh Cần sẽ có thể được nhắc lại.

 

Tuệ Lạc

 

 

 

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS