Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille

TỨ NIỆM XỨ

Khóa Thất Bồ Đề Phần, bài giảng đầu, tối Thứ Hai :  02/04/2012.

 

Bồ Đề Phần thứ I

TỨ NIỆM XỨ.

 

A/ Giới thiệu.

Kho tàng giáo lý mênh mông, do đức Phật để lại tuy rất nhiều, gồm đến 84.000 pháp môn (84.000 dhammakhandhà). Nhưng nếu cô đọng, tóm lược qua nội dung thực hành, thì chúng ta có thể nghĩ, là không ngoài Thất Bồ Đề Phần, hay 37 Phẩm Giác Ngộ, (Còn gọi là 37 Pháp Trợ Đạo).

 Thất Bồ Đề Phần (hay bảy phần pháp giác ngộ) đó là :

             1-Tứ Niệm Xứ (Catu Saṭipatthàna). Có 4 pháp.

             2-Tứ Chánh Cần (Catu Padhàna). Có 4 pháp.

             3-Tứ Như ý Túc (Catu Iddhipàda). Có 4 pháp.

             4-Ngũ căn (Pañca indriyàni). Có 5 pháp.

             5-Ngũ Lực (Pañcabàlàni). Có 5 pháp.

             6-Thất Giác Chi (Satta bojjhaṅga). Có 7 pháp.

       7-Bát Chánh Đạo (Atthaṅgikamagga). Có 8 pháp.

Trong Bảy Bồ Đề Phần đó, thì Tứ Niệm Xứ là thiết yếu, và trung trực. Ấy là bốn nền tảng cho những Bồ Đề Phần tiếp theo. Vì vậy, chúng tôi dành nhiều thì giờ hơn, để cẩn thận trình bày về nó….

Rồi trong Tứ Niệm Xứ, thì niệm thân và niệm thọ cũng vậy, nghĩa là chúng (niệm thân và niệm thọ) cũng được đặc biệt nhấn mạnh như «hai cánh cửa» đầu tiên, dẫn vào khám phá ngôi nhà ngũ uẩn của từng cá nhân. Và 2 «NIỆM XỨ» còn lại, là niệm tâm và niệm pháp sẽ đương nhiên được sáng tỏ.

Đây là lý do mà các Bồ Đề Phần khác, khi đã «thông qua Tứ Niệm Xứ, nhất là thông qua 2 căn bản niệm thân và niệm thọ», rồi thì có thể được trình bày giản lược hơn. Xin thông báo trước để quí vị rõ !

Khi cộng tất cả «số pháp» lại, thành ra 37 cách tu, tiến đến giác ngộ. Các giảng sư xưa nay cũng đã thuyết pháp và thường gọi ấy là «37 Phẩm Trợ Đạo», hay «37 Phẩm Bồ Đề».

Đã đến lúc, những ai hằng tin kính đức Phật và giáo lý của Ngài, cần phải phát huy pháp hành. Vì chỉ có pháp hành mới giải khổ hữu hiệu cho mỗi cá nhân và giúp ích cho xã hội.

Cũng như chỉ có pháp hành mới có thể bảo tồn được PG lâu dài. Nhất là nhân loại càng «tiến bộ» về mặt vật chất, hưởng thụ bao nhiêu, thì đạo Phật càng cần thiết trong đời sống cần đạo đức bấy nhiêu, để bình an tâm linh, và duy trì hoà bình !

B/ Kinh văn Bồ Đề Phần thứ I

Dàn bài

TỨ NIỆM XỨ (Catu sati patthàna).

(Đức Phật thuyết tại xứ Kuru, vào hạ thứ 20)

hay 4 «nền tảng chánh niệm», gồm :

   1- Niệm thân (Kāya anupassanà)

   2- Niệm thọ (Vedaṇā anupassanà)

   3- Niệm tâm (Citta anupassanà), và

   4- Niệm pháp (Dhammā anupassanà)

*Phân tích ngữ căn những chữ Phạn (Pàlì) nêu trên :

«Catu» là  bốn, ám chỉ số lượng (4).

«Sati» có nhiều nghĩa triết học khác nhau, như : Nhớ, Tỉnh giác, Ý thức (biết chính thân tâm mình trong hiện tại). Nhưng khi «Sati» được dịch ra Hán Việt là «niệm», thì nó chỉ cô đọng, chuyên chở các ý nghĩa này mà thôi.

-Ý nói «Sati» hoàn toàn không ám chỉ việc nhớ thuộc lòng một điều gì đó và thường xuyên lập trong đầu. Vì nhớ và tụng đến «nhập tâm» như thế, sẽ đưa đến tình trạng rơi vào một cảnh giới tưởng tượng của ý, và dễ trở thành lầm lạc….

«Patthàna» là «nền tảng» hay cái «khung» để tâm làm «phương tiện», duyên theo.

«Kàya» là thân thể, nơi tập hợp những bộ phận để một trạng thái tạm thời hiện hữu. Ở đây ám chỉ xác thịt còn sinh hoạt.

«Anupassanà» có nghĩa là quan sát một cách khách quan, rõ ràng, minh bạch, vô tư kiến, không bị bất cứ cảm tình hay cái gì ngăn ngại. «Anupassanà» hoàn toàn không ám chỉ sự chủ quan phân tích, hay suy tưởng, dựa trên 2 khái niệm hợp lý và bất hợp lý. Khi dịch «anupassanà» là «quán» thì không nên hiểu làm «đó là sự quán chiếu, tư duy, phân tích theo các pháp qui ước, mà một phàm nhân có thể nghĩ ra… »

«Vedanà» có nghĩa là thọ cảm, kết quả của cảm giác, lẫn kết quả của tưởng nhớ, của suy tư.

«Citta» tạm dịch là «tâm», tức cái khả năng tương đối để «biết cảnh» (hiện tượng). Khả năng tương đối ấy không làm cho một người phàm biết đứng sự thật. 

«Pháp» là tất cả những gì tâm có thể biết, và chưa biết.

A-Trích Phạn văn kinh Đại Tứ Niệm Xứ

(Mahā Saṭipaṭṭhāna Sutta) :

Idha bhikkhave bhikkhu

*Kāye kāyānupassanā viharati

ātāpā sampajāno saṭimā vineyya

loke  abhijjādomanassū

 

*Vedanāsu vedanānupassanā viharati

ātāpā sampajāno saṭimā vineyya

loke abhijjhādomanassū

 

*Citte cittānupassanā viharati

ātāpā sampajāno saṭimā vineyya

loke abhijjhādomanassū

 

*Dhammesu dhammānupassanā viharati

ātāpā sampajāno saṭimā vineyya

loke abhijjhādomanassū.

 

Nghĩa Việt :

Nầy chư tỳ khưu,

Sống quán thân trên thân,

Tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm,

Để (dần dần) chế ngự tham ưu ở đời

 

Sống quán thọ trên thọ

Tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm,

Để (dần dần) chế ngự tham ưu ở đời

 

Sống quán tâm trên tâm

Tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm,

Để (dần dần) chế ngự tham ưu ở đời

 

Sống quán pháp trên pháp

Tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm,

Để (dần dần) chế ngự tham ưu ở đời.

__________

 

Mở đầu là NIỆM THÂN : Vì sao phải niệm thân ?

-Vì thân nầy là «chỗ chứa» tất cả cảm thọ khổ vui, là môi trường căn bản của vạn pháp. Niệm thân là bắt đầu đi vào 37 Phẩm Giác Ngộ, hay Thất Bồ Đề Phần. Niệm thân thuần thục là tìm ra đầu mối cuộc sống nầy, từ  đó  thấy pháp giải thoát.  

-Thân người ví như biển khổ. Bao nhiêu thọ cảm, tưởng, hành, thức…huân tập trong hợp thể (hay ngũ uẩn) nầy, từ vô số kiếp luân hồi, ví như chiều sâu của nước biển. Tham, sân, si ví như 3 loại gió độc thổi mạnh không ngừng, làm cho nổi sóng, chao đảo ngọn đèn tri thức, chẳng phát được ánh sáng minh mẫn, tự soi thẳng vào nội cảnh. Nên niệm thân thuần thục, là phát triển được ánh sáng thanh tịnh, chiếu vào «biển thân» phức tạp, ô trược ấy. Hành giả nhờ đó sẽ phăng ra được chỗ khởi đầu của sinh tử mà hóa giải, thoát khổ !

-Một kiếp luân hồi có hai “chỗ nối tiếp”, là cửa SINH và cửa TỬ, mà mỗi sinh linh khó nắm vững, để bình yên bước qua…

-Hành thiền Tứ Niệm Xứ, bắt đầu bằng niệm thân, rồi niệm thọ qua hô hấp (hơi thở), khi thuần thục (tức là thường xuyên tiếp cận, nhìn kỹ hai cánh cửa sinh tử ấy), thì hành giả sẽ biết rõ sống chết như thế nào, và gặt hái được hai kết quả thiện, là sống tốt và chết tốt, đối với thân cũng như đối với tâm.

-Đó là chứng “thân trong thân, hay thân ngoài thân”, trước khi chứng “thọ trong thọ, hay thọ ngoài thọ”, “tâm trong tâm, hay tâm ngoài tâm”, và “pháp trong pháp, hay pháp ngoài pháp”, để “hóa giải” sinh tử.

-Hành thiền NIỆM THÂN tuy là một pháp môn luyện tâm, nhưng đó là một pháp môn luyện tâm đi vào bản thân của mỗi cá nhân, nên nó chỉ trừu tượng đối với người khác. Nhưng đối với chính hành giả, khi làm đúng thì nó rất “cụ thể”.

Cụ thể ấy có thể ví như một kẻ lữ hành, chăm chỉ đi trên con đường hướng đến mục tiêu. Họ sẽ nhìn thấy (chứ không tìm kiếm) những gì trước mặt họ, như thế nào, thì người thuần thục trong NIỆM THÂN cũng sẽ “chứng thật” cảm thọ và hơi thở trong thân họ, rõ ràng như thế ấy !

-Nói rõ hơn “niệm biết toàn thân” là kỹ thuật mở cánh cửa “vận hành linh khí”, nguyên nhân của hơi thở. Đó là cánh cửa duy nhất bắt đầu sự sống và chấm dứt sự sống.

-Và toàn thân đang sống chính là nền tảng của mọi cảm thọ, hay toàn thân đang sống chính là phản ảnh của mọi tâm thức, đồng thời toàn thân đang sống, cũng chính là hiện trạng biến hành của vạn pháp.

-Mỗi chu kỳ tâm thức đi qua (cittavìthi), là mỗi lần một số tế bào trong thân sinh ra, và mỗi lần một số tế bào trong thân “lão hóa”, tự diệt. Sắc thân ngũ uẩn tiến dần đến chỗ tàn úa, ngừng hoạt động, rời rạc, rồi tan rã !

-Hành thiền Tứ Niệm Xứ là định thần “chứng kiến bốn cảnh” sinh trụ dị diệt của thân v à tâm, qua khám phá “bốn nền tảng” THÂN, THỌ, TÂM, và PHÁP.

 

C/ Lược Kê CHÚ GIẢI và CHI PHÁP

(Sankhyà caṭṭhakathā) : 

a/Niệm Thân (Kāyanupassanā) tức là định tỉnh để nhớ biết toàn thân gồm :

 1-Những gì thuộc về thân, như 32 thể trược (xem trang 43).

(Paṭikūla manasikāra).

  2-Tình trạng thân hư hoại, như vật ở nghĩa địa (sīvatthika).

  3-Bốn oai nghi chính của thân :

Đi (gacchando), Đứng (tiṭṭhito)

Nằm (sayano), và Ngồi (nisinno).

  4-Những gì thân “cảm nhận” được (sampajañña) :

-Hiện hữu trong thân (satthaka sampajañña).

-Thuận chiều với thân (sappāya sampajañña).

-Sinh hoạt nơi thân (gocara sampajañña) : Hơi thở.

-Mờ ảo, vi tế trong thân (amoha sampajañña).

  5-Những “cấu tố” của thân (dhātumanasikāra)

   -Chất đặc (paṭhavī) : Đất

  -Chất lỏng (āpo) : Nước

  -Chất co giãn (tejo) : Lửa

   -Chất di động (vāyo) : Khí.

b/ Niệm thọ (Vedanānupassanā) là định tỉnh để nhận diện thực trạng các cảm giác gồm :

      1-Dễ chịu (mānāpa vedanā)

      2-Khó chịu (amānāpa vedanā)

      3-Trung cảm (adukkhamasukha vedanā)

      4-Hợp thể xác (lokiyasukha vedanā)

      5-Hợp tinh thần (niramisasukha vedanā)

      6-Khổ thân (lokiya dukkhavedanā)

      7-Khổ tâm (aniramisa dukkhavedanā) 

      8-Xả (upekkhā vedanā)

      9-Bình đẳng (niramisa adukkhamasukhà vedanā).

c/ Niệm tâm (cittānupassanā) là định tỉnh để biết thực trạng tâm gồm :

       1-Tâm tham (rāgacittaŋ)

       2-Tâm không tham (arāgacittaŋ)

       3-Tâm sân (dosacittaŋ)

       4-Tâm không sân (adosacittaŋ)

       5-Tâm si (mohacittaŋ)

       6-Tâm không si (amohacittaŋ)

       7-Tâm hôn trầm (sankhittacittaŋ) : không tỉnh lâu

       8-Tâm hỗn độn (vikkhittacittaŋ) : không rõ ràng

       9-Tâm đại hạnh (mahaggatacittaŋ) : đại lượng, tiến hóa

      10-Tâm hẹp hòi (amahaggatacittaŋ) : chật hẹp, cố chấp

      11-Tâm hạ nghiệp (sanuttaracittaŋ) : sa đọa, bần tiện

      12-Tâm cao thượng (anuttaracittaŋ) : thanh nhã

      13-Tâm định (samādhitacittaŋ) : an trụ, tỉnh táo

      14-Tâm hiếu động  (asamādhicittaŋ) : bức rức

      15-Tâm buông bỏ (vimutticittaŋ) : thảnh thơi

      16-Tâm bám chặt (avimutticittaŋ) : vướng mắc

 

d/ Niệm pháp (dhammānupassanā) là định tỉnh để biết các pháp hằng thật gồm :

 1-Bốn pháp hằng thật (Sacca dhammā) (hay Tứ Diệu Đế : Catu Ariyasaccāni) :

 *Chịu đựng vui buồn, hay khổ đế (dukkha ariyasacca)

 *Nguyên nhân chịu đựng, hay tập đế (dukkha samudaya)

 *Niết Bàn, sự dứt chịu đựng, hay diệt đế (dukkha nirodha)

 *Phương pháp chấm dứt chịu đựng, hay đạo đế (magga)

2-Năm pháp chướng ngại (5 nivaranāni dhammā) :

     -Tham dục (kāmachanda) : Ưa thích ngũ dục

     - Ác ý (abhijjjā vyāpāda) : bất mãn, sân hận

      -Thụy miên, hôn trầm (thīna middha) : biếng nhác, lừ đừ.

      -Vọng động (uddhacca kukkucca) : trạo cử, phóng tâm.

       -Hoài nghi (vicikicchā) : do dự

3-Năm pháp tập hợp (5 khandhadhammā), hay ngũ uẩn :

-Tập hợp vật chất, hay sắc uẩn (rūpakkhandhadhammā)

-Tập hợp cảm giác, hay thọ uẩn (vedanakkhandhadhammā

-Tập hợp suy tư, hay tưởng uẩn (saññakkhandhadhammā)

-Tâp hợp phản ứng, hay hành uẩn(saṅkhārakkhandhadhammā)

-Tập hợp nhận biết, hay thức uẩn (saññakkhandhadhmmā)

 

4-Mười hai pháp liên hệ (12 āyatanadhammā) :

-Nhãn căn (Cakkhāyatana) liên hệ với sắc trần (Rūpāyatana)

-Nhĩ căn (Sotāyatana) liên hệ với thinh trần (Saddāyatana)

-Tỷ căn Ghānāyatana) liên hệ với hương trần (Gandhāyatana)

-Thiệt căn (Jīvhāyatana) liên hệ với vị trần (Sāyanāyatana)

-Thân căn (Kāyāyatana) liên hệ với xúc trần (Phassāyatana)

-Ý căn (Manāyatana) liên hệ với pháp trần (Dhammāyatana)

 

5-Mười hai pháp thống khổ (12 dukkhadhammā)

        -Thống khổ vì sanh (jātidukkhā)

         -Thống khổ vì già (jarādukkhā)

         -Thống khổ vì chết (maranadukkhā)

         -Thống khổ vì lo âu (sokadukkhā)

         -Thống khổ vì thương tiếc (paridevadukkhā)

         -Thống khổ ví có thân (dukkhadhammā)

         -Thống khổ vì có tâm phiền não (domanadhammā)

         -Thống khổ vì tâm tuyệt vọng (upāyāsadhammā)

         -Thống khổ vì tâm ghét phải gần (appiyehidhammā)

         -Thống khổ vì tâm thương phải xa (piyehidhammā)

         -Thống khổ vì tâm bất toại (yampicchaṃ nalabhati)

         -Thống khổ vì có ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức).

(Sankhittena pañcakhandhadhammā).

 

6-Ba pháp nguyên nhân (samudayadhammā) :

         -Dục ái (kāmatanhā)

          -Dục hữu(bhavatanhā)

          -Dục Phi hữu (vibhavatanhā)

 

7-Một pháp tịch diệt (nirodhadhammā)

-Niết Bàn dứt sinh tử (nibbānadhammā).

 

E/ TỨ NIỆM XỨ : Định hay Quán ? 

-ĐỊNH và QUÁN là hai vấn đề đang còn “thảo luận” trong giới “tu Phật”. Thảo luận có nghĩa là đóng góp ý kiến của mình, và lắng nghe, học hỏi ý kiến của người khác.

 *Một số người cho rằng hành “thiền định” rất khó thành công. Vì phải vận dụng tuyệt mức tâm thần, để hợp nhất với đề mục. Nhưng Nếu đạt được kết quả, thì cũng chỉ đến cõi “định vô sắc” là cùng, rồi hành giả “hưởng phỉ lạc” chấp vào quả thiền, mà có thể trở thành tà kiến. Nhưng nếu không thành công, thì tinh thần sẽ bất thường, tẩu hỏa nhập ma, rất nguy hiểm cho thần kinh não bộ.

 *Một số người khác nêu ý kiến có vẻ “phân tích” hơn, rằng hành “thiền định” đã không chắc giải thoát, mà còn có thể có hại. Họ khuyên nên học Vi Diệu Pháp để “biết” các loại tâm, rồi hành thiền quán, “quan sát” tâm từng giây từng phút. Cách nầy vừa tương đối dễ làm, vừa an toàn. Vì thiền quán là “thiền tuệ”(minh sát), hành thiền ấy tâm sẽ sáng suốt.v.v….

 -Đối với họ, khi thuộc lòng «bản đồ tâm» rồi, thì cứ thường xuyên “quan sát” tâm mình, biết “nó” loại gì, lần lượt phát sinh như thế nào, thì các phiền não sẽ tự nhiên tiêu trừ, giải thoát (?!). Dường như hễ ai đã học Vi Diệu Pháp, hành «thiền quán» một thời gian lâu, thì người đó chắc chắn được giải thoát vậy.

 -Nhưng thực tế không phải như thế ? Người hành “thiền quán” cũng rơi vào cố chấp (vi tế) như thường. Nhiều khi họ còn chủ quan “xác nhận” rằng “minh biết mình đang tham (hay đang sân), thì tâm tham (hay tâm sân) sẽ diệt”. (?)

 -Sự thật, bất cứ ai (biết Vi Diêu Pháp hay không biết Vi Diệu Pháp), khi nổi lòng tham (hoặc sân), thì ngay lúc đó hay về sau họ cũng biết. Họ còn biết thêm rằng lòng tham (hoặc sân) hằng làm cho họ khổ. Nhưng biết lúc đó, hay biết về sau, tiềm lực của tánh tham (hoặc sân) trong mỗi người vẫn nguyên vẹn. -Không vì “biết nó liền”, hay “biết nó sau” mà nó suy giảm !

 -Lại nữa, cả 2 loại người phàm, tâm chứa đầy tính tham (một là bị ảnh hưởng bỡi sự buồn vì thất bại, hai là bị ảnh hưởng bỡi sự vui vì thành công) trong cuộc đời, cả 2 đều vì tham mà phải chịu đựng buồn vui, dưới nhiều dạng khác nhau….

 Khi nghe “thuyết pháp” họ rất thích thú, rồi “nhất định không tham nữa”. Lòng tham trong họ nhân đó được ngủ yên, “dưỡng sức”, chứ không phải vì vậy mà yếu đi. Nghĩa là “nạn nhân” của nó vốn vì mệt mỏi với tham, rồi chán “mộng vật chất”, sau khi nghe pháp chỉ tạm ngưng (tham), để xây “mộng tinh thần”, hay tham cái khác là “an lạc” mà thôi….

 -Nguyên nhân cơ bản của sự tham và chịu khổ ấy, là sắc thân ngũ uẩn nầy, mà người ta không “khảo sát” bằng hành thiền NIỆM THÂN để biết, lại đi tìm “giải pháp an lạc” trong nghe pháp theo tưởng uẩn, thì họ sẽ bị “nó” gạt. Vì vậy mà “lòng tham sau khi nghe pháp nhất thời biến mất” (không thèm tham nữa), nhưng rồi “nó sẽ hiện ra” (lại tham), một cách nguyên vẹn, mạnh mẽ, trong cả 2 loại người, có thể gọi là cuồng tín vật chất, và cuồng tín tinh thần nói trên.

 -Thực ra, lòng tham (rồi sân) chỉ yếu đi, khi tưởng uẩn đã được thanh lọc, hóa giải bằng TRUNG ĐẠO, tức là quân bình thiền pháp trong thân, và hội tụ thần lực thanh tịnh nơi tâm.

 Chúng tôi đề nghị quí vị hãy sống trung đạo, phối hợp hai pháp thiền định và quán, lấy định làm nền tảng cho quán (minh sát), và thực hành 37 pháp giác ngộ. 

                -Vì sao ?

 -Vì thiền định trong đạo Phật là nguyên nhân và tiến trình đưa tới chánh định, chứ không phải chỉ đưa đến “chú định” bằng mọi giá, như mục đích của các tín ngưỡng cổ xưa, hay các tín ngưỡng cùng thời với đức Phật. Nhất là các giáo phái tôn thờ “tha lực”. Đối với họ “định” chỉ để giao cảm, “tiếp xúc” với đấng “toàn năng”.

 -Vả lại, trong kinh Bát Chánh Đạo, đức Phật đã dạy phải có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, rồi mới đến chánh định. Và trong kinh Tứ Niệm Xứ (hay phần khởi đầu của 37 Phẩm Bồ Đề), đức Phật cũng dạy niệm thân (kàya anupassanà), hay định trong thân làm nền tảng. Thân chính là bể khổ, hành giả phải định tâm trong bể khổ ấy, thì mới biết sóng gió tham sân si trong đó phát sinh như thế nào, chúng công phá ra sao, mà dùng pháp Phật giải trừ.

 -Những «phương tiện» bề ngoài, dùng làm đề mục, như đất, nước, lửa, khí, không gian, màu sắc, hay các hình thức đáng nhờm gớm..v.v…ghi trong kinh Phật (32 thể trược), mới nghe qua tưởng như những phương tiện ấy, để giúp cho tâm định ngoài thân. Kỳ thực, những vật đó vì chúng thực tế, dễ tìm, dùng để đầu tiên dẹp phóng tâm qua năm giác quan, hầu sau cùng “thu thần lực vào trong”, giúp tâm thức hành giả “định tỉnh và nhìn” nội thân, quan sát ý thức, nhận diện tứ đại trong thân, đồng nhất với tứ đại bên ngoài. Tất cả đều vô thường.

 -Từ đó suy ra, niệm thân (hay nhớ biết thân gồm hơi thở) trong Phật giáo, tuy đầu tiên là thiền định, để có chánh định. Nhưng về sau nó tự nhiên biến thành thiền quán (=minh sát), khi hành giả tâm định trong thân, nhân diện cảm giác, bước qua giai đoạn niệm thọ, phẩm thứ hai trong 37 pháp giác ngộ.

 Nghĩa là, tâm đã định trong toàn thân rồi, thì những gì trong toàn thân, như hơi thở và cảm thọ, từ thô kệch đến vi tế, tâm đều “thấy và biết” hết, một cách khách quan. “Thấy và biết” ở đây là “thấy và biết” trong thực trạng minh mẫn, quan sát ngũ uẩn, chứ không phải thấy và biết theo tư thức thường tình.

 -Cũng xin nói thêm rằng : Chưa toàn định (jhàna) thì không thể quán được. Vì quán là quan sát. Ví như một người hiếu động, vừa đi vừa quan sát, thì thấy bất cứ cái gì cũng đều xê dịch di động, không rõ rệt.

 Tâm phàm nhân vốn phóng đi và bắt cảnh liên tục, trong cuộc sống quay cuồng theo tham vọng. Cũng có khi người ta dừng bước, nhưng đó chỉ là mới tạm dừng, chứ con người chưa phải đã thực sự yên. Đang đi, không thấy rõ đã đành, ngay cả người mới dừng chân cũng chỉ thấy đối tượng mơ hồ mà thôi, không thể nào thấy đúng, bằng kẻ đã đứng yên, định thần mà thấy rõ thực tại được.

 -Trên đây chỉ là mượn thí dụ vật chất cho dễ hiểu. Nhưng thiền định rồi quán, pháp hành của tinh thần trong thân, thì lại rất vi tế, khó nắm bắt hơn. Người không hành thiền không thể nào “tri thông” dễ dàng được.

 -Nói tóm lại, Tứ Niệm Xứ là thiền định lẫn thiền quán. Nó phải dẫn dẫn tới chánh định và minh sát. Và bốn phẩm bồ đề đầu tiên (Tứ Niệm Xứ) nầy, khi thực hành đúng thì không bị bế tắc. Và nếu thực hành đến nơi đến chốn, thì sẽ có hiệu lực giải thoát.

 Mặt khác, pháp thiền trong Phật giáo đưa đến sự giải thoát, không phải nói ra cho người ta tin, mà là nói ra cho người ta biết, để thực hành, chứng thật. Ví như sự tái sinh luân hồi là pháp hành của ngũ uẩn. Tin tái sinh hay không, chẳng thành vấn đề. Nhưng hễ có ngũ uẩn thì phải tái sinh, không phải vì người ta không tin mà chết hết tái sinh, khỏi trả quả báo !

 

F/ Kết luận

 Phật giáo không phải là một tôn giáo lấy lý thuyết và suy luận làm mục đích để đạt tới. Những  gì đức Phật đã dùng lời lẽ nói ra, chỉ là phương tiện thứ yếu. Vì ngoài lời lẽ thì không còn cách nào khác để truyền thông giữa người nầy và người khác, hay giữa những người mới đến hay muốn tìm hiểu đạo Phật.

 Nhưng pháp hành và thực nghiệm mới là phương tiện duy nhất để đạt đến giác ngộ tối hậu, giải thoát. Tứ Niệm Xứ là 4 pháp hành cơ bản và đầu tiên có thể đưa hành giả đến gần thánh đạo.

 Nếu trong một xã hội mà đa số người sống theo thiện pháp và luôn luôn tỉnh giác biết mình (tức là thực hành Tứ Niệm Xứ), thì tâm trí của đa số người ấy trong sáng, xã hội ấy sẽ đầy trí tuệ, tiến bộ về mọi mặt. Mọi lứa tuổi sẽ nhờ vậy mà có đời sống cá nhân cũng như cộng đồng được an vui, Thanh niên không thiên về bạo động, và cũng không trở thành lười biếng, bi quan, nhu nhược.

 Ước mong pháp hành TỨ NIỆM XỨ, do đức Phật để lại sớm được phổ biến trong nhân loại, nhất là trong giới đứng đầu quốc gia, hay trong các cấp lãnh đạo quần chúng, để cõi đời nầy luôn luôn có yếu tố đưa đến thanh tịnh, hòa bình, con người biết sống trong nương nhờ lẫn nhau, tương duyên và tương tác, trong ý thức thương người tức là thương mình, hay bác ái vậy !

 

Mise à jour le Dimanche, 03 Juin 2012 19:28  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS