Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home Thuyết trình Kiến giải về các từ "Citta - Vinnana - Mana"

Kiến giải về các từ "Citta - Vinnana - Mana"

Đề tài :

Kiến giải về 3 từ ngữ Pàlì :


CITTA, VIÑÑÀNA, và MANA.

 (CS Tuệ Lạc trình bày 17 Mai 2009)

 

Cả ba chữ nầy đều có «nghĩa nôm na» là

«tâm», «tâm hồn», «tâm thức»,  «ý thức», «tinh thần».

Trong Tam Tạng kinh điển Pàlì, chúng ta thường thấy đức Phật, khi nói về «tâm thức», ngài đã thỉnh thoảng dùng từ ngữ «Citta» ở chỗ nầy, và thỉnh thoảng dùng từ ngữ «Viññàna» ở chỗ kia. Đặc biệt là trong Vi Diệu Tạng (Abhidhamma).

Nhưng có một từ ngữ thứ ba, là “Mana”, cũng ám chỉ “tâm thức”. Danh từ nầy chúng ta chỉ tìm thấy Đức Phật dùng trong tạng Kinh và tạng Luật, nhất là trong Kinh Pháp Cú (Dhammapadasutta), với cái nghĩa là «tâm chủ trương hành động» hay «tâm là năng lực cầm đầu».

Còn các nhà cổ ngữ học, khi ám chỉ phần trừu tượng, linh hoạt trong con người, thì họ cũng dịch chung chung các chữ «citta», «viññàna»,«mana», là :

«Tâm», «Tâm thức», «tâm linh», «thức tánh», tinh thần».

(-Có người còn dịch «Mana» là «Linh hồn» nữa !).

 

Nghĩa là tất cả chỉ để diễn tả cái «sinh lực vô hình», được hiểu là hoạt năng của sự sống, trong mỗi con người nói riêng, và trong chúng sanh nói chung.

Vì vậy, nghiên cứu về văn tự Pàli hay Sanskrit, qua ngữ căn và «nghĩa gốc», dù chỉ là chế định, của các từ Citta, Viññàna, và Mana, có lẽ cũng là một điều rất cần thiết, nhất là rất cần thiết cho những người muốn đi sâu vào Phật học tam tạng Pàlì. -Xin bắt đầu :

 

I/  CITTA.

«Citta» (Pàlì) hay Citra (Sanskrit) vốn đến từ ngữ căn “cit”, là một chữ rất sâu sắc. Theo định nghĩa bằng chữ Pàlì sau đây :

Cittañca nàmarùpañca citto cinteti =

Suy nghĩ về tâm (tánh biết chính nó) và danh sắc là “citta”.

Nó có 3 dạng chính :

1/Dạng tính từ (Visesanapada), «citta» ám chỉ các nghĩa, như linh động, chiếu sáng, đẹp, rõ, nổi bật, tương đương với động từ «Cetati» (=soi, làm cho thấy).

2/Dạng động từ (Àkhyàta), «citta» ám chỉ các pháp hành, như suy nghĩ, tư tưởng, tư duy, tìm tòi. Hình thức viết ra động từ của nó là «Cinteti» (=nghĩ, tưởng, vọng…).

3/ Nhưng lúc ở dạng danh từ (Nàmapada), thì «Citta» trở thành khá phức tạp. «Nó» là tên gọi của một tổng hợp, gồm sắc pháp (Rùpadhamma) và danh pháp (Nàmadhamma). «Citta» vừa đóng vai «chủ động» (tạo nghiệp), vừa đóng vai «thụ động» (chịu hậu quả của nghiệp) trong tất cả chu kỳ sinh diệt, luân hồi.

Và cũng trong trường hợp nầy, «citta» chuyên chở nhiều nghĩa lý quy ước, cụ thể lẫn trừu tượng, như sau :

Thứ nhất, «citta» ám chỉ bắp thịt tim, Hadayavatthu (cụ thể), nơi chứa «điện trường của sắc cơ tâm» (man’s personality), như chúng ta tìm thấy ý nghĩa trong nhóm từ Pàlì :

«…hadaya phaleyya, cittavikkhepa pàpuneyya… ».

Tạm thoát dịch : Tim tổn thương, thì tinh thần đảo lộn.

(Theo Saṃyutta I. 126).

 

Thích nghĩa từ ngữ câu Pàlì trên :

Hadayaṃ                                 :  bắp thịt tim

Phaleyya (do động từ phalati) :  làm bể, làm tổn thương

Cittavikkhepaṃ                       :  sự đảo lộn tâm

Pàpuneyya (=Pàpuneti)           :  đưa đến, đạt tới

Ở đây “Citta”«cơ tâm có từ trường» (General status of sensory-emotional being). Nó phối hợp với ngũ quan cảm giác, hay ngũ căn (Pañcindriyàni) một cách chặc chẽ. Nó là “trú sở” của sức khỏe tinh thần, và quân bình tình cảm.

Tạp Bộ Kinh (Saṃyutta Nikàya I.26) cũng nói :

“…samàdahaṃsu cittaṃ attano ujukaṃ akaṃsu sàrathì va nettàni gahetvà iṅdriyàni rakkhanti paṇḍità…”.

Thích nghĩa :

Samàdahaṃsu (sam+àdahati) : cấu kết, kết hợp

Cittaṃ             :  tâm (có từ trường, điện trường).

Attano             :  sinh mạng, ngã sở

Ujukaṃ           :  thẳng, trực tuyến

Akaṃsu           :  tự bản năng, không giả tạo

Sàrathì             :  chủ trì (như người lái xe)

Va                    :  chắc chắn, không thay đổi

Gahetvà           :  đã nắm chặc

Nettàni             :  sự hướng dẫn

Indriyàni          :  các căn quyền, hay cảm quan

Paṇḍità            :   thuần thục, khéo, rành, không lẫn lộn, trí giả.

 

Đoạn kinh văn Pàlì trên, có thể tạm dịch là :

Cơ tâm (phát điện từ), nắm giữ và phối hợp với bản năng, xuyên qua ngũ quan cảm giác, để trực tiếp điều khiển, bảo thủ một cách không buông thả, pháp hành của “bản ngã”.

Từ đó suy ra, “Citta” hay “Tâm” chi phối toàn bộ sự sống của con người, còn gọi là Ngũ Uẩn (Pañca Khandhà), gồm Sắc uẩn (Rùpakhandha), Thọ uẩn (Vedanàkhandha), Tưởng uẩn (Saññàkhandha), Hành uẩn (Saṅkhàrakhandhà), và Thức uẩn  (Viññànakhandha).

Thứ hai, “Citta” ám chỉ «tinh thần» (mental status), trừu tượng, tức là tình trạng tương sinh lẫn tương khắc trong thân thể con người (kàyassa visena =contrasted to physical).

Như từ ngữ thấy trong Dìgha Nikàya. I, 20. III, 32, sau đây :

”Kilantacitta” : Tinh thần mỏi mệt

(có thể có trong một thân thể không đau ốm), và 

“Citta kàya passaddhi lahutà” : Tâm tịnh thì thân nhẹ nhàng.

(Visuddhimagga.448, Thanh Tịnh Đạo.448).

 

Chú thích :

Citta= tâm, kàya=thân, passaddhi=an tịnh, lahutà=nhẹ nhàng.

Tương tự như chữ “thitacitta”, có nghĩa là “sự vững tâm”

(sự làm cho thân thể yên ổn).

*Citta ở đây tuy hình, nhưng “nó” đóng vai chính trong sinh hoạt thân thể, dù cho những khi thân thể có tình trạng và hình thức ốm yếu. (Theo Saṃyutta V,74).

Thứ ba, “Citta” là «tiềm lực của ý chí». Ở đây “citta” là một pháp hành tích cực và hướng động (active intention).

Chúng ta tìm ra điều nầy nơi kinh văn thứ ba, trong 24 duyên hệ (Paccayuddesa) thuộc Vi Diệu Tạng, như sau : 

“Cittàdhipati cittasampayuttakànaṃ dhammàna

taṃsamutthànànañca rùpànaṃ adhipaṭipaccayena paccayo…”

Thích nghĩa :

Citta : tâm, Adhipati : Ưu thế, Sampayuttakànaṃ : do hành động, Dhammànaṃ : theo pháp, Taṃ : Nó, Samutthànaṃ : gây ra, Rùpànaṃ : bỡi sắc (thân), Adhipatipaccayena : ở tình trạng ưu thế, Paccayo : là duyên hệ.

Tạm dịch : Tâm linh là ưu thế khi nó kết hợp với các điều kiện làm duyên khác, ở tình trạng thuận lợi cho pháp hành qua sắc pháp (ám chỉ thân).

Trong duyên hệ, nói về ưu thế, ngoài tâm (citta) ra, còn có 3 pháp khác rất quan hệ, cộng tất cà là bốn như sau :

1/Chanda (dục),  2/viriya (tấn),

3/Citta (tâm),  và 4/Vìmaṃsa (khán, quan sát kỹ).

(Theo Dìgha Nikàya. III. 77, Sayutta Nikàya.V . 268, và Vibh.288).

Ngữ căn “cit” cũng biến ra các từ ngữ biểu tượng khác như :

Ceto (Ý), Cetanà (hữu ý, cố ý, tác ý),

Cetasika (tâm sở,  hay sở hữu tâm)…v..v…

 

Tóm lại, “tâm” (Citta) có đến 4 khả năng kỳ diệu là :

                          1/ Tâm có thể nghĩ đến danh.

                          2/ Tâm có thể nghĩ đến sắc.

                          3/ Tâm có thể nghĩ đến chính nó. Và

                          4/ Tâm có thể nghĩ đến “không nghĩ gì hết”.

 

II/ VIÑÑÀNA=VIJÑÀNA

“Viññàna” hay “Vijñàna” là một “hợp tự” của 2 phần : “tiếp đầu ngữ” (préfix) “vi” và ngữ căn “jñà”.

“VI” có nghĩa thông thường, là “rõ ràng”, “xuyên thấu” và “Jñà” có nghĩa là “biết”. Khi hai chữ hợp lại thành Vijñàna (Saṅskrit), hay Viññàna (Pàlì), thì có nghĩa là “biết rõ ràng”.

Theo sách Rhys Davids và Stede, thì “Viññàna” (hay “Vijñàna”) ám chỉ “khả năng” của tinh thần (mental quality). Nó là một trong “năm tập hợp” (hay ngũ uẩn=pañca khandhà), tạo ra con người.

Năm tập hợp đó là :

                      1/Tập hợp của sắc (Rùpakhandhà),

                      2/Tập hợp của thọ (Vedanàkhandhà),

                      3/Tập hợp của tưởng (Saññakhandhà),

                      4/Tập hợp của hành (Saṅkhàrakhandhà),

                      5/Tập hợp của thức (Viññànakhandhà).

 

Năm tập hợp nầy còn có các tên khác là : Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, và Thức uẩn.

Nhưng mặt khác, Viññàna (hay Vijñàna) khác hẳn với Citta. Nó không liên quan gì đến sự suy nghĩ, không liên quan gì đến sự phản chiếu, không liên quan gì đến pháp hành, nó chỉ chứa đựng “sự biết” (hay thức). “Sự biết” (hay thức) nầy chính là kết quả của những điều kiện sinh nghiệp, khi những điều kiện ấy hội đủ. Nó có thể gọi là “tâm quả”. (Do duyên hợp thành).

Chẳng hạng như “sự biết của tâm”, qua con mắt (hay nhãn thức=Cakkhuviññàna), chỉ thành tựu khi hội đủ các điều kiện (hay ưu thế duyên hệ). Ví dụ như đối tượng ngoại trần phải nằm trong tầm tiếp thị, nhãn căn phải tốt, và tâm không ở trong trạng thái “hữu phần tĩnh” (bhavangacalana), tức là tâm không mê.

Còn động từ của Viññàna (hay Vijñàna) là “Vijjàti”, tức là trong sáng, biết rõ. Động từ nầy do hai chữ “Vi” và “Jàti” hợp lại. “Vijjati” còn có nghĩa là anh minh, sáng suốt. Nó ngược lại với Avijjati, là mờ tối, si mê. Khi Avijjati biến thành danh từ là Avijjà, thì có nghĩa là vô minh, giống như Avijjà mở đầu của Thập Nhị Nhân Duyên vậy !


III/ MANA.

“Mana” (hay “Mano”) đến từ ngữ căn “manah”. Theo sách Ngài Buddhadatta, nhà biên soạn tự điển Pàlì, và là cao tăng học giả người Tích Lan, thì “Mana” đại diện cho “đặc tính chủ trương” của Tâm (Citta). Trong khi đó, Viññàna (thức) đại diện cho sự chứa đựng kết quả (cái biết) của việc làm do tâm vọng động.

Còn theo bà Rhyds David, trong cuốn “Tâm Lý Học Phật Giáo”, Buddhist Philosophy (trang 19), chữ “Mana” Có thể dịch là “tâm quyền biến”. Và vì là “tâm quyền biến” cho nên “Mana” cũng là “tính duy lý” của con người. Nó quyền biến trước tất cả các hiện tượng ngoại trần, nên Ngũ Thức (pañca viññàna), sinh ra từ năm căn (hay năm giác quan), phải trở thành năm “giới xứ” (Àyatana), hay đất tung hoành của nó.

Nói cách khác, nó là “Ý thức” (Mano viññàna), luôn luôn dựa trên những dấu ấn của 5 thứ tích tụ, huân tập, từ Nhãn thức (Cakkhuviññàna), từ Nhĩ thức (Sotaviññàna), từ Tỷ thức (Ghànaviññàna), từ Thiệt thức (Jìvhàviññàna), và từ Thân thức (Kàyaviññàna), để hoạt động. Các dấu ấn ấy có một cái tên chung là “pháp trần”, hay tâm cảnh (hoặc cảnh ý). Còn năm thức kia chỉ là kết quả khi năm trần tiếp xúc đủ chu kỳ (phassavithì) với năm căn (Pañcindriyàni) mà thôi.

Vì vậy trong Saṃyutta Nikàya II, 94 (Tạp Bộ Kinh) có nói “Citta iti pi mano iti” (Ý thức cũng là Tâm)

Khởi từ chữ “Mana”, mà chúng ta có chữ “Manasikàra”, trong nhóm từ “Yoniso manasikàra”. Tạm dịch là “như lý tác ý”, hay “khéo léo tác ý”.

*KẾT LUẬN

Chúng tôi cố gắng nêu ra một số sưu tầm rất nhỏ trong rừng Phật học mênh mông, cốt để giúp cho sinh hoạt Phật Pháp của nhóm ở đây có chút ít công phu tra cứu kinh điển. Trên thực tế, sự học Phật cần đặt trọng tâm vào pháp hành, để soi sáng hiểu biết, chứ không dựa nhiều vào pháp học để mở rộng kiến thức, thỏa mãn khát khao hiểu biết. Vì “biết” qua học hiểu không bổ ích bằng “biết” qua hành !
Mise à jour le Mardi, 23 Août 2011 08:49  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS