Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home Thuyết trình Tứ Diệu Đế

Tứ Diệu Đế

Nền tảng giáo lý Phật Ðà :

Tứ Diệu Ðế


Kho tàng văn học Phật giáo gồm 84.000 pháp môn, chia làm ba tạng, là tạng Kinh (Suttapitaka) có 21.000 pháp môn (21.000 khandhà), tạng Luật (Vinayapitaka) có 21.000 pháp môn), và tạng Luận (Abhidhammapitaka) có 42.000 pháp môn). Nhưng nếu đem ba tạng (Tipitakà) Kinh-Luật-Luận ấy, trình bày một cách cô đọng yếu lược, thì tất cả sẽ không ngoài tổng đề Tứ Diệu Ðế.

Vậy Tứ Diệu Ðế là gì ? Tứ Diệu Ðế là bốn chân lý hay 4 sự thật (Catu-Ariyasaccàni), phi không gian lẫn phi thời gian. Ðó là 4 hằng pháp vượt ra ngoài các quan niệm hữu biên, tương đối, tương dung, tương phản.

Hai từ ngữ «chân lý», hằng pháp» được dùng trên đây, tuy vốn khó «diễn nghĩa», nhưng qua đó chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh, sự khác biệt ngụ ý trong tu từ học, giữa danh từ «Tứ Diệu Ðế» với hầu hết những danh từ khác, mà nghĩa đen lẫn nghĩa bóng xưa nay vốn nằm trong định kiến nhị biên, hay ám chỉ tương đối, tương dung, tương phản.

Trước khi bàn vào TỨ DIỆU ĐẾ, chúng ta thử khảo sát khía cạnh tiếng nói, tìm nguồn gốc một số các từ ngữ, thường được nghe sau đây : Chân-giả, sinh-diệt, vui-buồn, thăng-đọa, sáng-tối, phải-trái, thuận-nghịch, có-không, cao-thấp, sang-hèn, lớn-nhỏ, trên-dưới, đen-trắng, đẹp-xấu, dài-ngắn, trong-ngoài, đầu-đuôi…v.v…Nghĩa là chúng ta gặp quá nhiều cặp từ ngữ chứa ý nghĩa tương phản, không thể nào kể xiết.

Những «từ ngữ tương phản» nầy thực ra, ngay từ đầu vốn do loài người qui định theo nhu cầu sự sống. Chẳng hạng như thuở nguyên sơ, con người ăn uống chỉ đơn giản bằng đôi bàn tay, và thức ăn được để trên mặt đất hay trên chiếc lá….

Nhưng đến một lúc nào đó, vì tiện nghi mà bộ óc con người tự vận dụng, tìm ra một vật có bề mặt lõm xuống, và đặt tên là «cái đĩa», thì những vật đồng dạng về sau, đều được gọi là «đĩa» cả. Rồi một thời gian khác, người ta lại tìm ra những vật có thể kết lại, trùm lên thân cho ấm, để chống lạnh, đặt tên là «tấm chăn», thì về sau trong ngôn ngữ loài người có một vật dụng, gọi là “chăn” (hay mền)..v.v…

-Chúng tôi dài dòng như vậy để nhấn mạnh rằng : “Trong sự sống của con người , không cái gì “vốn đã có nghĩa sẵn”, mà tất cả phát sinh do nhu cầu của thực tại. Và “nhu cầu thực tại” cũng có thể gọi một cách khác, là “hoàn cảnh” hay “nhân duyên”. –Nghĩa là không có gì không do nhân duyên cả !

Giả sử ngay từ đầu người ta đã gọi vật lõm sâu kia là «tấm chăn», và trái lại đặt tên cho những vật trùm lên thân thể cho ấm là «cái đĩa», thì ngày nay chúng ta cũng tự nhiên nói : «Ăn cơm uống nước bằng tấm chăn, và ra ngoài, muốn khỏi lạnh, phải mang theo cái đĩa».

Tương tự như thế, nếu chị Hồng lúc mới sinh ra, được cha mẹ chọn cho tên «Tú» (thay vì Hồng), thì bây giờ mọi người đều gọi chị là «chị Tú». Và anh Tú, nếu ngược lại được cha mẹ đặt tên lúc chào đời là Hồng, thì bây giờ người ta phải gọi anh là «cậu Hồng». Như vậy «Hồng» hay «Tú» chỉ là cái tên «được thành lập» ở một điểm thời gian, hay do nhân duyên hoàn  cảnh nào đó.

Từ các tiếng «chăn», «đĩa», «Tú», «Hồng» điển hình trên đây, chúng ta có thể dùng óc tưởng tượng, đi ngược dòng thời gian, quay lại lúc con người mới bắt đầu phát được tiếng nói, để truy ra hàng triệu âm thanh khác nhau, cũng một cách ước lệ như thế, nghĩa là không có tiếng nào là có nghĩa gốc tuyệt đối cả. Khi cần thì người ta phải dùng ước lệ, vì nó vốn không có chân nghĩa nhất định.

Nói tổng quát, “pháp hành” trong sự sống hằng có khuynh hướng “tưởng tượng ra” (còn gọi là “sáng tạo”) một con người hay một vật dụng. Rồi pháp hành ấy tự nó phát ra âm thanh, mệnh danh đó là một nhân vật, hay đó là một đồ dùng, tức là pháp hành đương nhiên thành lập ngôn ngữ.

 “Pháp hành” ấy dù còn trong ý nghĩ, hay đã được thực hiện ra cụ thể rồi, thì kết quả vốn cũng chỉ là những «chiêu cảm theo nhu cầu thuận nghịch, giữa những hoàn cảnh khác nhau», nên ý nghĩa của chúng (=ngôn ngữ) phải nằm hẳn trong nhị biên tương đối. Phật giáo gọi ấy là  pháp chế định của tâm và vật.

Vả lại, vạn vật từ ngữ chế định ấy trước kia không có, nên tuy hiện tại chúng đang có, nhưng trong tương lai chúng sẽ biến mất. Chu kỳ từ chiêu cảm đến thực hiện, từ thực hiện đến tồn tại (chế định), rồi từ tồn tại (chế định) đến biến mất, đã để lại trong tâm thức con người một chuỗi tật nhiễm theo hoàn cảnh gọi là thói quen. Và thói quen đó là hiểu biết tích tụ xoay chiều tùy điều kiện, hay tùy định kiến song đối.

Thử nêu vài trường hợp hiểu biết xoay chiều, hay thói quen thuộc định kiến song đối, trong ngôn ngữ và trong quan niệm, của con người. Như người quen cầm bút tay mặt, thì nghĩ tưởng và đặt đểtay mặt thuận hơn tay trái. Hay người thích cầm bút tay trái thì in trí ngược lại, tay trái thuận hơn tay mặt. Hiện tượng ở Anh quốc thì ưu tiên lưu thông xe cộ bên trái, nhưng ở Pháp thì ưu tiên di chuyển bắt buộc phải chạy phía bên phải.v.v… nằm trong pháp hành nầy.

Hoặc trong đời sống hằng ngày : Người «duy vật» thì cho sự dùng sức mạnh để phục vụ xác thân là một điều tự nhiên và cần thiết, nên biện luận rằng «trời đất sinh ra, mạnh được yếu thua, ưu thế làm chủ yếu thế, hay cá lớn ăn cá bé, sinh vật xuất hiện trên đời là để nuôi dưỡng lẫn nhau....v.v.. » (?!). Rồi họ tự do hiếp đáp đồng loại kém sức hơn mình, hay sát hại muôn loài để tiêu thụ, xem thế là hành động «hợp lý», để quân bình “dân số sinh vật” trên mặt đất, chứ không có gì là ác cả.

Còn người «duy tâm», lại tin tưởng rằng «các vật nầy thì có tánh linh, các vật khác thì không». Và nghi lễ bùa chú có thể «linh thiêng hóa» một số tôn vật, rồi họ luôn luôn cúng kiến, sùng bái, bảo vệ những tôn vật đó, để sẵn sàng tiêu diệt bất cứ ai dám vi phạm đến thần vật, tín ngưỡng của họ.

Đối với họ, muốn có «đạo đức» là phải luôn luôn trung thành với thần linh, xả thân với tôn vật, để được đấng siêu hình kia ban thưởng cho, chứ con người bất lực, không thể tạo ra «đạo đức», nên họ tuyệt đối hành động theo «phán quyết» của giáo sĩ, nhất tâm tin tưởng nơi thần linh, không cần có một giải thích, soi sáng nào cả. Và họ cho đó là một điều «tự nhiên».

Nhưng may thay, lại cũng có một ít người, khác hẳn với hai thành phần nói trên. Hạng thứ ba nầy tính tình ôn hòa, ý thức lành mạnh, nghĩ rằng : «Ỷ đông hiếp ít, ỷ mạnh hiếp yếu, là một điều thấp hèn», hay «Tướt đoạt sự sống của bất cứ sinh vật nào, vì bất cứ lý do gì, cũng đều làm cho bản tâm hung bạo, thoái hóa, mất dần đức hiếu sinh, tự làm cho tâm thức suy vi, chật hẹp, chịu xung đột….

Nghĩa là biết mọi động vật đều muốn sống, sợ chết như mình, mà mình vẫn ích kỷ, tham lợi, rồi kết thúc một hay nhiều mạng sống…là một hành động thất đức». Họ là hạng người lấy sự thanh tịnh nội tâm làm đối tượng, chứ không đối chiếu mình với kẻ khác (ngoại cảnh), nên «kiến chấp» của họ thường khi có thể tránh được xung đột với xã hội (nhị biên).

Ngoại trừ hạng người thứ ba ra, xưa nay lối tư duy nhị biên song đối (Dualisme), hay suy luận hai chiều tương phản nhau, dựa trên hiện tượng «tự nhiên», bên nào nghe qua cũng đều "có lý" cả, đã rất “thịnh hành”. Trong xã hội, hai loại người «duy vật» và «duy tâm» nầy, lúc nào cũng chiếm đa số. và tư tưởng của họ hằng được “gọt đẽo” mỗi ngày một “tinh xảo”.

Nên cái mà người ta thường gọi là «sự thật», «đạo đức» hay «lẽ phải», thường cũng chỉ là những vấn đề tương đối. Nghĩa là một điều có thể «đúng» hay «hợp đạo lý» theo lối tư duy này, thì nó lại rất có thể «sai» hay «trái đạo lý» dựa trên lối tư duy kia, hay khác nữa !

Ðây chính là lý do mà chúng tôi đặc biệt lưu ý quí vị khi tìm hiểu về «Tứ Diệu Ðế», trong nhà Phật !

Vì sao ? Vì «Tứ Diệu Ðế» trong nhà Phật không phải là cái lý lẽ xoay chiều, vừa đúng vừa sai, tùy lúc, tùy nơi, hay tùy điều kiện. Nói rõ hơn, Tứ Diệu Ðế trong nhà Phật, không nằm trong nhị biên thành kiến của ngôn ngữ con người.

Cũng bỡi nhị biên thành kiến mà con người lầm lạc, mắc dính trong đối chiếu, biện bác, nên tự cảm thấy mình cao hơn người, hay người cao hơn mình, hoặc cái nầy «bằng» cái kia, hay cái kia «kém» cái nầy, loay hoay mãi với những «lý lẽ» chế định vừa chênh lệch, vừa hai chiều, đúng và sai…v..v…

Ngay cả trong lãnh vực «tôn giáo», người tu vốn xem tiêu chuẩn khiêm nhượngđạo đức hàng đầu của sự đối đãi, mà không khéo họ vẫn còn vướng phải cấp bậc, giáo phẩm, huống chi ngoài thế tục. Rồi cả hai «đối lập lẫn nhau» ấy không ngừng lý luận, viện dẫn, hăng hái đề cao mình, bài bác người, nên xã hội càng lúc càng xung đột, chia rẽ, đảo điên, và nhân tâm càng ngày càng phân tán..

Mục đích của đạo Phật là giải khổ, và sau cùng là diệt khổ, nên đương nhiên giáo lý nhà Phật không thể nào liên quan đến cái cố tật chấp nhứt, nhị biên đóng khung đó. Chữ Phạn trong kinh Phật gọi các pháp chế định, nhị biên tương đối thuộc thế gian ấy, là «Paññatti sacca», tạm dịch là tục đế. Và (chữ Phạn) gọi Tứ Diệu Đế mà chúng tôi mạo muội trình bày sau đây, là «Paramattha Sacca», hay chân đế.

Tục đế thì mang nghĩa lý chế định xoay chiều, có điều kiện, và xuyên qua hoàn cảnh, mâu thuẫn với chính nó. Thậm chí chúng tôi sợ rằng, qua ngôn ngữ tục đế, “người ta càng nói vấn đề càng xa sự thật”. Còn chân đế thì lời lẽ dù thận trọng, cân nhắc “chính xác” đến đâu, cũng chỉ «vừa đủ» để «tạm hiểu», chứ lời lẽ không thể là tiêu chuẩn của chân đế. Ngôn ngữ càng chẳng phải là phản ảnh của chân đế.

Tục ngữ có câu “Nghe thì quên, thấy thì nhớ, làm thì biết”.

Nhưng khi cần, người ta bắt buộc phải dùng ngôn ngữ chế định, để trao đổi, «thông tin», chia sớt cái «tạm hiểu» (chưa phải là biết) cho nhau, vì ngoài nó ra không còn phương tiện phổ thông nào khác.

-Hay như soạn giả vẫn thường đề nghị là khi sống trong ngôn ngữ chế định, chúng ta «hãy giữ ý quên lời». Những gì chúng tôi trình bày ở đây nếu quí vị cảm thấy «ý nó hữu dụng», thì dùng nó để hổ trợ cho sự suy nghĩ khách quan của quí vị, còn ngược lại thì quí vị hãy quên nó đi, xem như chưa nghe nó. Như vậy tốt hơn là chấp vào ý nghĩa chế định, để thắc mắc, «xung đột» với tư kiến của mình.

Bây giờ xin thành tâm thứ tự đi vào đề TỨ DIỆU ĐẾ :

*Thứ nhất Phật giáo nói về Khổ Ðế (Dukkha Ariya-Sacca). Chúng tôi, sau nhiều thập niên nghiên cứ Phạn ngữ, phân tích và quán chiếu, chúng tôi mới hiểu rằng : Phật giáo nói “Khổ Đế” là nói về toàn bộ những cảm giác bất thuận tiện, như là một thực trạng khổ. Thực trạng khổ nầy luôn luôn có mặt trong đời sống mọi sinh vât, và rõ ràng nhất là trong đời sống nhiễu nhương, đa dạng, của loài người.

Sự thật (thực trạng khổ) ấy vốn không nhằm nói lên cái ý nghĩa tuyệt đối “khổ là dối nghịch với vui”, không tùy thời gian, không tùy không gian (hoàn cảnh), cũng không tùy hình thức lớn nhỏ, thấp cao, hay tùy trình độ tiến bộ nào hết. Thời nào thực trạng ấy cũng có cả. Nghĩa là lúc còn ăn lông ở lỗ thì con người vẫn có những cảm giác bất thuận tiện của thời ăn lông ở lỗ. Rồi ngày nay văn minh tân tiến thì nhân loại vẫn có những cảm giác bất thuận tiện của thời đại khoa học, nhiều khi còn nhiều hơn, phức tạp hơn, và tinh vi hơn là đằng khác.

Thực trạng cảm giác bất thuận tiện, hằng hiện hữu nơi thể xác, và trong tinh thần của mỗi con người. Nó có được diễn tả ra ngôn ngữ hay không được diễn tả thì nó vẫn “có mặt”. Và không có một xã hội hay cá nhân nào trên cõi đời, mà lại cho cái cảm giác bất thuận tiện ấy (dù nhỏ hay lớn) là vui, là hạnh phúc cả. Lý do chỉ vì nó là một hằng lý, là một sự thật nhà Phật tạm gọi là khổ đế. Sự bất thuận tiện ấy vượt khỏi tính lạc quan hay bi quan của nhân loại. Nó nằm sẵn trong mọi tác ý (tốt lẫn xấu) của mỗi cá nhân.

Thử nêu một ít cảm giác bất thuận tiện tiêu biểu thông thường (đối với con người còn gọi là bất toại nguyện) trong đời sống hằng ngày, như : Muốn khỏe mạnh mà vẫn ốm đau. -Muốn trẻ mãi mà vẫn già nua, xấu đi. -Muốn giàu sang mà vẫn nghèo cực (ngay cả người đã có thật nhiều tiền rồi mà vẫn cảm thấy mình ít tiền hơn kẻ khác, nghĩa là thua kém). -Muốn học giỏi mà tâm trí cứ tối tăm. -Muốn có mưa trời lại nắng. -Muốn đoàn tụ với người thương thì bị chia ly. -Muốn không thấy mặt kẻ ghét thì lại gặp hoài. -Muốn được khen thì bị chê. -Muốn đầy quyền hành trong tay, thì vẫn có người uy lực cao hơn mình.v.v…và ..v..v….

Trước đệ nhất khổ đế ấy, nếu ai biết cảnh giác bình tĩnh, cho là bình thường, giảm thiểu, đừng để cho «cảm giác bất toại nguyện» hằng ngày ảnh hưởng nhiều đến tâm thức mình, thì kẻ ấy đã tạm thời ít khổ rồi, khoan nói đến chuyện học và hành Phật giáo sâu xa. Huống chi đạo Phật ngày nay tương đối có nhiều kinh sách, giảng giải khá rõ ràng, luôn cả các pháp môn thực dụng, chứ không phải như thuở trước, thiếu phương tiện nghiên cứu, tránh được tình trạng xưng mình con nhà Phật, mà không hiểu giáo lý gì hết.

Theo Phật giáo, ai thường xuyên ý thức được sự thật bất toại nguyện ấy như là một thực trạng phải có (khổ đế) của kiếp người, rồi an tịnh, thản nhiên đối diện, và tu thân để giảm thiểu, hay dập tắt mọi cảm giác bất toại nguyện, thì kẻ ấy là bậc tỉnh thức. Họ nhất định không phải là người bi quan, chạy trốn thực tế (hay đổ thừa xã hội) như một số người lầm tưởng. Hoặc đúng hơn, họ mới chính là hạng sinh vật có bản lĩnh làm người, đủ sáng suốt, can đãm, và xứng đáng với từ ngữ lạc quan. Rồi phẩm cách tự tại, lạc quan đó cũng không làm cho họ mù quáng, mắc dính với ngay cả cái khả năng giải trừ những bất toại nguyện của họ.

*Thứ hai Phật giáo nói về Tập Đế (Samudaya-Ariya-Sacca), hay nguyên nhân của khổ đế. Nguyên nhân nầy chính là lòng tham, dục vọng. Nó là động cơ của tất cả ước muốn, luôn luôn dẫn đến không ít thì nhiều cảm giác bất toại nguyện. Hay nó là nguyên nhân của ngàn vạn thứ khổ đau chằn chịt. Vì lòng tham mà thức tánh mắc dính, đứng đầu là mắc dính bản ngã (hay cho thân tâm nầy là ngã sở), tức ôm chặc cái «ta» giả hợp, mà nhân loại nói riêng, muôn loài chúng sinh nói chung, phải vất vả, xung đột, đảo điên, luân hồi, rồi tất cả không ngừng thèm khát một đời sống «thiên đường» trường cữu, «cố định» trong một bản chất thường biến.

Lòng tham vốn biểu hiện dưới muôn hình vạn trạng, lộ liễu lẫn vi tế. Nhưng có một số ngoại tướng có thể nhìn thấy được, như tham tiền bạc tài sản, tham danh vọng, tham những gì của mình vẫn quí trọng hơn những cái tương tự của người (con mình thì giỏi, hơn con người, tư tưởng của mình thì đúng hơn, hay quan trọng hơn tư tưởng của người), tham quyền lực, tham pháp thuật, tham sắc đẹp, tham âm thanh, tham vị ngon, tham xúc cảm, đụng chạm vừa lòng…v.v….

Và ngay cả khi lòng tham đang nung nấu mà không được toại nguyện, thì lòng tham liền đảo ngược bộ mặt, thành ra không thèm gì hết. Nó lập tức khoát lên cái bề ngoài giả hiệu, là “giác ngộ, ”tham vô chùa tu, tham cầu an trước người khác, tham được yên thân, thoát tục, tham đừng ai đụng đến mình, tham «từ bi hỷ xã.» bỏ qua mọi chuyện, tham né tránh, tham chạy trốn vào tư tưởng bi quan yếm thế, tham tự an ủi mình bằng những nghi lễ mê tín cúng bái, tham xuôi tay mặc kệ, tham “nhẫn nại”, chấp nhận ra sao cũng được, tham tới đâu thì tới, dù cho tận diệt cũng “thản nhiên”..v.v..(?)

Nói tóm lại, lòng tham chứa một lúc cả hai xung lực nguy hiểm là «tích cực» lẫn «tiêu cực». Hai xung lực nầy hằng cột trói tâm thức một cách dai dẳng và cứng ngắc vào hai tình trạng không (chấp hữu và chấp vô). Ðây chính là lý do mà đa số phàm nhân thường nghĩ lầm rằng : Các bậc giác ngộ trong đạo Phật «diệt được» lòng tham, tức là trở thành «chán đời», không thiết gì hết (?)!

-Sự thật, các thánh nhân trong nhà Phật, khi chứng đắc thánh quả (giải thoát), chính là các Ngài đã hoàn toàn độc lập (một cách tự tại) trước lòng tham, không còn bị lòng tham chi phối (dù cho vi tế), chứ các Ngài không phải đã «giết chết lòng tham», như người ta tưởng tượng. Bằng chứng là khi đói khát, các thánh nhân vẫn tự tại ăn uống, khi lạnh các Ngài vẫn thanh tịnh khoat lên nguòi tấm y phục thanh đạm !

Vì Phật giáo vẫn phân tích một cách ẩn dụ rằng: Xác thân còn sống (=hình thức chủ yếu, «tượng trưng» cho lòng tham), ví như con ngựa, và tinh thần trong xác thân ấy, ví như người cưỡi ngựa. Cả hai (người và ngựa) là một tổng hợp, phải «hành trình» làm sao cho ít bị sa đọa nhất, để sau cùng đến đích, xuyên qua những vòng luân hồi.

Như vậy người kỵ mã sáng suốt (giác ngộ) là kẻ tỉnh thức, có bản lĩnh độc lập, biết chỉ huy con ngựa, giữ cho nó thường xuyên lành mạnh, và thuần thục. Họ luôn luôn đối xử cứng rắn, lúc bị nó vì tham sân si làm khó dễ. Cứng rắn không phải là chủ trương giết ngựa, vì giết ngựa là hiếu sát, chạy trốn, thiếu can đãm, tự cắt cụt phương tiện hành thiện, tiến hóa của mình. -Và khi mãn chu kỳ, nhờ tinh thần độc lập, tự tại, mà người kỵ mã sẽ thanh tịnh, thản nhiên từ giã, khi con ngựa đã già nua kiệt quệ, không còn sức đồng hành, rồi trút hơi thở cuối cùng.

Theo đạo Phật, độc lập với lòng tham cũng không có nghĩa là buông xuôi, lười biếng, nhu nhược trước ác pháp (hay khó khăn), để chẳng làm gì hết. Vì lười biếng, nhu nhược, chẳng làm gì hết là một bộ mặt khác của lòng tham. Nó giết chết duyên tiến hóa trong lý nhân quả, chôn vùi tính sáng tạo, và làm bại liệt trí tuệ.

Nhưng rất tiếc có một số người hiểu lầm đạo phật, cho rằng dẹp lòng tham là không nên làm gì hết, hay chỉ sinh hoạt cầm chừng, đủ ăn, rồi ở không, dành thì giờ cho việc «ngồi yên», hay suy nghĩ vẩn vơ đến những «triết lý cao siêu» của tôn giáo. Nghiêm trọng hơn nữa là họ cho như vậy là «tu thiền».

Sự thật, sống theo Phật giáo hoàn toàn trái ngược với thái độ buông xuôi đó. Câu nói «Nhàn cư vi bất thiện» tuy không phải là châm ngôn phát nguồn từ đạo Phật, nhưng trong Kinh Pháp Cú (Dhammapada), Đức Phật đã để lại câu kệ thứ 43. Nội dung câu kệ nầy chẳng những không gián tiếp mang ý nghĩa tương tự, mà nó còn nói lên tính năng động, chuyên cần tuyệt vời của một người Phật tử xứng đáng. Soạn giả mạn phép thoát dịch thành vần như sau, để cống hiến quí vị :

«Chẳng cầu ai cứu độ. Bất thối làm việc lành.

Đêm ngày xây bè ngộ. Nào ngán bể trùng xanh».

Chính đức Phật khi còn tại tiền đã không ngừng khiển trách những nhà sư lười biếng.

Đúng ra, kẻ nhận mình là con nhà Phật, thì kẻ ấy phải sinh hoạt siêng năng, làm lành không thối chuyển, cho người lẫn cho mình, trên tất cả phương diện, nhất là trên phương diện để tiêu trừ tội lỗi, tật xấu, ác pháp, qua ba nơi thân khẩu và ý, của cá nhân lẫn của cộng đồng, trong đó có tiêu trừ tật lười biếng, và tưởng tượng viễn vong, phải được đặt lên hàng đầu. Vả lại, tu thiền trong đạo Phật là một công phu, đòi hỏi sự tinh tấn vượt bực, chứ không phải chỉ là cái «mốt ngồi» bề ngoài để trang trí, làm cho xung quanh chú ý đến mình.

Mặt khác, hành thiền theo Phật giáo, là áp dụng một nghệ thuật sống hướng nội, triệt để lành mạnh, cho tâm thức lẫn cho thể xác, bao gồm cả 4 oai nghi (đi, đứng, nằm, và ngồi) trong sinh hoạt hằng ngày. Và với một kỷ thuật có khoa học, nghiêm túc, hợp lý, được hành giả hiểu rõ, rồi tự nguyện thực hiện, chứ không vì lý do nào khác bắt buộc. Nghệ thuật sống thanh tịnh ấy cũng chẳng phải đơn giản chỉ là ngồi im, nhắm mắt, mật niệm một danh hiệu linh thiêng nào đó, đồng thời với những động tác có tính cách hình thức, như «bắt ấn», đọc «chú».v.v...mà hành thiền là một phương pháp hữu hiệu, để thanh lọc thân và tâm.

Nói cách khác, là đối với người Phật tử tại gia, tầm thực hành thiền đạo rất rộng, có thể thực dụng ở tất cả mọi nơi, như trong chùa, ở nhà, tại sở làm, hay giữa những cuộc họp mặt, gia đình lẫn cộng đồng…….

Ngoại tướng của thiền đạo là vẻ trầm tĩnh, chính khí, tự tin, sáng suốt, hiền hòa, tươi tỉnh, đâu ra đấy, và không kém phần linh động. Phản lại với sự «trịnh trọng», chậm chạp (một dạng lười biếng), do dự…của những «người tu» nặng về hình thức, trình diễn, mà trong tâm vốn chẳng biết mình đi về đâu, hay dò dẫm, chờ đợi mà không biết sẽ là pháp gì, chứa đầy lo lắng.

Về phương diện tích cực, trong gia đình lẫn ngoài xã hội, những người ở vai trò chỉ huy, hay chịu trách nhiệm một đơn vị sinh hoạt, hoặc một cơ cấu quốc gia, mà nếu họ biết sống với thiền đạo, thì họ có khả năng thực hiện nhiều kế hoạch đề ra một cách tốt đẹp. Rồi khi gặp «sóng gió» họ cũng đủ sức điều chỉnh kế hoạch, lèo lái tổ chức vượt qua cơn ngặt nghèo, mà không phải đòi hỏi nhiều hy sinh, của những cộng sự viên.

Một khía cạnh của Tập Đế nói rõ rằng : Lòng tham của những con người lười biếng, ích kỷ, nhu nhược, tuy nằm dưới lớp sơn ngụy trang «tiêu cực», mang cái mặt nạ «chán đời» như thế. Nhưng đó chỉ là khi các điều kiện chưa hội đủ, để cho lòng tham được thõa mãn (hay chính những cá nhân ấy bất lực trước cơ hội), thì nó tỏ ra «không thèm» gì hết, hầu đánh lừa những người xung quanh. Nếu giả sử khi ấy hoàn cảnh thình lình thay đổi, thuận tiện cho lòng tham phát tác, thì nó lại bộc lộ mạnh bạo như thường. Ðây cũng chính là lý do mà những cựu phạm nhân, sau khi ra khỏi nhà tù, đã tỏ ra thành công dân «tốt» một thời gian khá dài, rồi bất thần phạm tội trở lại, trước sự ngạc nhiên và tiếc rẽ của nhiều người xung quanh.

Về phương diện tư duy, bản chất của lòng tham là luôn luôn hướng về thu hoạch, có thể cột chặc tư tưởng của những người trần tục, với định kiến hưởng thụ thực tế. Nên khi họ trở thành «duy tâm», thì duy tâm đối với họ cũng hướng về một lợi lộc «đặc biệt», mà họ cho là một siêu quyền linh htiêng «phải» ban thưởng cho niềm tin.

Nếu họ «hết lòng» tin tưởng vào một «thánh linh» nào đó, rồi «mong cầu được phát đạt hiện tại, và hạnh phúc vĩnh viễn trên thiên đàng trong tương lai (thường kiến),không được», thì lòng tham liền quay qua phản ứng đối nghịch, khiến họ bất mãn, tư duy ngược lại, rồi không tiếc lời phủ nhận, hay phỉ báng những giá trị tâm linh, viện lẽ là không có thật, và từ đó họ trở thành cực đoan duy vật (đoạn kiến).

Người cực đoan duy vật tin rằng «chết là hết, giá trị của cuộc đời chính là ở hưởng thụ tối đa, bằng mọi giá, tất cả những lạc thú trong sự sống». Tội hay phúc vốn là các vấn đề, đặt ra cho lắm chuyện mà thôi. Chỉ có luật «mạnh được yếu thua, khôn nhờ dại chịu» là một «chân lý» vĩnh viễn, chứ không có phải trái, thiện ác gì cả ! -Hay phải trái, chỉ là nguyên nhân của mọi xung đột.

«Túi tham không đáy» vẫn là một đề tài vô tận, để hàng triệu tư tưởng gia suốt lịch sử nhân loại viết ra rất nhiều pho sách khác nhau, đề cập đến vô số cảnh đời trái ngang, đau khổ, qua bao nhiêu vòng chuyển biến thịnh suy, đổi thay, thăng trầm, khứ hồi theo chu kỳ thành-trụ-hoại-không, chiến tranh, hòa bình, vinh quang, nhục nhã, tiến bộ, dả man..v.v….Tất cả chỉ là những hậu quả tương ứng khác nhau, của nguồn gốc tham vọng vô biên giới, hap Tập Đế.

Tuy nhiên, về phương diện cá nhân và xã hội, lòng tham vốn vừa là động cơ vừa là đối tượng (tốt cũng như xấu). Nếu xưa kia vì ước mơ một đời sống tiến hóa, con người từ bán khai rừng rú, đã học hỏi, nghiên cứu, thực nghiệm, tìm tòi ra các nền văn minh, thì ngày nay vì sự say mê hưởng thụ, và tranh giành làm chủ những sung túc vật chất tân tiến ấy, con người không khéo cũng có thể vì tham lam, nóng giận, tối tăm lầm lẫn, hành động tàn ác, để cho tâm thức nhiễm lại tánh dả man thời thượng cổ.

Túi tham của con người theo “Khoa Tâm Lý Học" trong Phật Giáo (Ahidhammasangaha) chính là nguyên nhân của vô số vọng tưởng, chiêu cảm, biến đổi cuộc đời ra thiên hình vạn trạng, vừa hội tụ vừa phân tán, vừa xung đột vừa tương duyên, cấu kết giao thoa lẫn lộn, tạo thành một «hỗn thể», chủ quan trá hình với khách quan, mà trí thông minh cao nhất của con người, nếu chưa chứng đắc thánh lưu, hướng đến Phật quả, thì không thể nào phân biệt được !

Như trên đã nói, theo Phật Giáo túi tham cũng có thể ví như một con ngựa chứng, nếu chúng ta biết thuần thục, chỉ huy, hướng nó về nẻo thiện (tham làm lành, tham phúc đức, với sự sáng suốt), thì nó có thể thuần thục, đưa chúng ta đến gần bìa rừng sinh tử luân hồi. Ngược lại, nếu chúng ta buông lung, để cho nó tự do lôi kéo chúng ta đi đâu cũng được, thì chúng ta chắc chắn bị nó kéo sâu vào vòng vô minh, sẽ lâm vào cảnh khổ, lẩn quẩn mãi trong luân hồi !

*Thứ ba Phật giáo nói về Diệt Ðế (Nirodha Ariya-Sacca). Ðây là phẩm viên mãn, dứt khổ, một cứu cánh tuyệt tịnh, không còn bị cái vòng sinh tử luân hồi, đầy «nhân-duyên-quả» chi phối. Viên mãn dứt khổ ấy là một sự thật siêu việt (Ariya-Sacca), vì «nó» hoàn toàn nằm ngoài lòng tham, tách rời khỏi kiến chấp vọng tưởng, xa lìa hẳn sân-hận si-mê, và nhất là không còn mắc dính với phẩm vị, hay bất cứ phúc lộc, quả lành nào nữa, dù là hạnh quả lành cao nhất trên thiên giới.

Bậc giải thoát ở trình độ này dĩ nhiên không còn ác tính. Và khi chưa hết tuổi thọ, đang sống thanh tịnh trên cõi đời, tất cả hành vi của các Ngài đều thuộc về loại động tác vô ký, nghĩa là các Ngài cư xử hiền lành, tươi tỉnh như một thói quen (nhà Phật gọi là thiện thục=Kusala kammabhava), chứ các Ngài không còn tư lậu, phân kiến, chấp rằng : «Đời sống đức hạnh là tốt, cần thực hành cho có phúc, hay để về sau hưởng lạc». Từ đó, trong tâm tư của các Ngài, không có vấn đề mình hiền lành, cao thượng hơn người.

Chư hàng thánh nhân, như Tu-Ðà-Hườn đạo, Tu-Ðà-Hườn quả, Tư-Ðà-Hàm đạo, Tư-Ðà-Hàm quả, A-Na-Hàm đạo, và A-Na-Hàm quả, là sáu biểu tượng cao siêu của Diệt Ðế «hữu học». Còn bốn bậc thánh nhân sau cùng là A-La-Hán đạo, A-La-Hán quả, và Bích Chi Phật, Toàn-Giác-Phật là bốn biểu tượng của Diệt Đế Vô Thượng.

Ðạt tới Diệt Đế Vô Thượng tức là không còn tâm thức hữu biên, để còn so sánh, phân biệt bảo rằng «Cõi giải thoát là hạnh phúc cao nhất, trong tam giới không đâu bì kịp…» hay «Ở cảnh Phật phúc lộc hưởng hoài không hết..v.v…», -kiểu khao khát, mắc dính với hạnh phúc «trường cữu» mà phàm nhân thường mơ ước, tưởng tượng ra. Chưa kể nhiều «đạo trưởng» còn mơ tưởng dồi dào hơn nữa, rồi đặt chuyện hoang đường, nào là họ đã xuất hồn lên thiên đàng, lên cõi Phật, gặp được tiên, thánh.…nhận «thọ ký» và «thấy» các cõi ấy tinh anh, đẹp đẽ vô cùng ra sao..v.v..…( ?).

Nói cách khác là những gì nằm trong phạm vi của túi tham đều dựa trên vật chất (danh pháp, sắc pháp), và thuộc về chiêu cảm, biến hiện hữu hạn, mơ mộng, và tưởng tượng. Nó vốn tự lồng trong ý thức dục giới thôi. Nó không hẳn tương ứng với thiên giới, nên phải có bắt đầu, và phải có chấm dứt, tức là có tuổi thọ và còn rất nhiều bất toại nguyện.

Còn phẩm tịch tịnh của chư thánh A-La-Hán và chư Phật, thì siêu việt, như nhiên, nằm ngoài tam giới, không có bắt đầu (vô sinh) và không có chấm dứt (bất tử), nên chẳng có pháp gì trong tam giới (trời, người, và đọa cảnh), có thể tương đương, để so sánh làm bằng chứng được.

*Thứ tư Phật giáo nói về Ðạo Đế (Nirodhagàminì-Patipadà-Ariya-Sacca). –Tức là con đường thật dẫn đến dứt khổ, thoát khỏi sinh tử luân hồi. Con đường nầy còn gọi là Bát Chánh Ðạo (Atthaṅgikamagga), gồm tám «phẩm cách» đưa hành giả qua khỏi ba hố luân hồi, là thiên giới, nhân giới, và đọa giới.

 Bát chánh đạo chính là biểu tượng thực dụng của Phật Giáo. Trong đạo Phật không có vấn đề thuộc rành kinh kệ và chủ trương cúng bái đúng nghi lễ trước bàn Phật, là sẽ được giải thoát, mà chính yếu là phải thực hành một cách không thối chuyển những lời Phật dạy. Sự thực hành ấy cũng gọi là sống đạo, sống đúng theo thiện hạnh hằng ngày hằng giờ, và tạo nên thuần thục thiện nghiệp ba nơi thân khẩu ý, mới là mở dần con đường giải thoát.

Ðức Phật khi còn tại thế đã luôn luôn từ chối việc dùng giáo lý để tranh luận, thỏa mãn khao khát kiến thức của con người. Ngài chỉ dùng giáo pháp để soi sáng tâm trí chúng sinh, nhất là giúp tri thức nhân loại trở thành thanh tịnh giác ngộ, tu thân, diệt khổ.

 Những kẻ nhờ phúc đức lưu lại từ tiền kiếp, mà hiện tại «thông minh», nhớ nhiều và hiểu được giáo lý sâu sắc dễ dàng, mà bị ngã kiến che áng, tưởng «mình hiểu nghĩa kinh Phật và chuyên cần tụng tán, là tự nhiên được siêu sinh, giải thoát, không cần thực hành giới định tuệ», là những kẻ rất đáng tiếc. Nếu có ai hỏi thì ngụy biện bảo rằng «Phật tại tâm.v.v.. ». Kinh Phật gọi những hạng người nầy là nạn nhân của «sở tri chướng», vì kiến thức của họ đang khiến họ càng ngày càng đi xa mục đích diệt khổ mà họ không biết.

Bát Chánh Ðạo hay con đường trong sáng, tiến hóa ấy có 8 phẩm cách hổ tương cần thiết cho nhau, là :

1/Chánh kiến (Sammà Diṭṭhi), thấy hiểu đúng sự thật. Thấy hiểu đúng sự thật ở đây ám chỉ nhận thức thanh tịnh, chân chính, hợp lý, và vô ngại. Sự hiểu biết đúng ấy có được, chẳng những nhờ ngũ quan cảm giác lành mạnh, mà nó còn là kết tụ của thân khẩu ý trong sạch, sáng suốt, xuyên qua định và tuệ thanh tịnh, không bị một tiền kiến, thiên lệch, chủ quan hay chấp trước nào chi phối cả.

Theo kinh điển chữ Pàlì (Phạn ngữ), thì chánh kiến có 4 chi, là : a/Tin nhân (bất cứ cái gì cũng có nguyên nhân), b/Tin quả (hành động hay nhân nào cũng có hậu quả), c/Tin biệt cộng nghiệp, tức nhân hợp với quả, phát xuất từ một hay nhiều chúng sinh nào, là nghiệp tái tạo hữu hiệu của một hay nhiều chúng sinh đó, và d/Tin Phật là bậc đã giác ngộ, giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử.

2/Chánh tư duy (Sammà Sakappo) suy tưởng đúng đắn. Ðây là phản ảnh của phẩm cách chánh kiến. Vì không có chánh kiến, thì không thể có chánh tư duy được. Ví như người đứng không thẳng trước ánh sáng, thì cái bóng của họ trong gương, chẳng thể nào ngay thẳng và thấy rõ được. Chánh tư duy là nền tảng của thông thái, của soi sáng niềm tin, và của những tiến trình hướng thiện. Chánh tư duy chính là mẹ đẻ ra các nền luân lý tiến bộ, văn minh vật chất lẫn tinh thần. Nếu mất chánh tư duy, loài người sẽ mất đi khả năng triết học, khoa học, và xã hội học, quay lại tình trạng thiển cận, ngu si, dã man, sống trong thoái hóa, và tự động tiêu diệt lẫn nhau.

3/Chánh ngữ (Sammà Vàcà)nói lời ngay thật, hồn nhiên, chẳng dụng ý, vô ác tâm. Ðây là một hành động phát ra từ cửa miệng của con người. Chánh ngữ phản ảnh trung thực hai phẩm cách đi trước, là chánh kiếnchánh tư duy. Nghĩa là một người không thấy hiểu đúng đắn, và không suy nghĩ chân chánh, thì không thể nói lời ngay thật được. Lời nói chính là mối dây liên lạc, để trao đổi giữa con người với con người, về mọi tin tức, mọi nhu cầu trong đời sống thực tại. Nhờ sự trao đổi ngôn ngữ ấy mà tất cả những hiểu biết, và định hướng liên đới của nhân loại, mới càng ngày càng xác thực, ăn khớp, và hữu dụng. Nếu không có chánh ngữ trong lời nói, thì sự trao đổi tin tức, «kiến thức» qua cửa miệng kia, chỉ là những âm thanh đối đáp theo bản năng động vật. Tác dụng của nó sẽ trở thành ít hữu dụng và nhiều nguy hiểm.

4/Chánh nghiệp (Sammà Kammanto),hành động hằng ngày không mang lại ác quả (cũng gọi là nghiệp thiện), tức là mọi hành động đều vô hại đối với muôn loài. Theo nhà Phật, chánh nghiệp ở đây, ngoài việc ám chỉ hành động hay nghề nghiệp chân chánh, nó còn ám chỉ tất cả những động tác thiện (kusala-kammà), từ thân và tâm của một người.

Nhưng những hành động trong nghề nghiệp, vẫn được xem là quan trọng hơn hết, nên khi nói đến «chánh nghiệp», người ta nghĩ ngay đến các thói quen minh bạch thuộc về sinh kế. Tóm lại, chánh nghiệp bao gồm tất cả hành động tốt từ thân, từ khẩu, và từ ý của một cá nhân. Cũng giống như chánh ngữ, người không có chánh kiến, và không có chánh tư duy, thì không thể có chánh nghiệp được.

5/Chánh mạng (Sammà-Àjìvo) nuôi mạng theo đúng thiện pháp. Ðây là một hạnh sống có liên quan về hình thức lẫn nội dung, đến bốn phẩm hạnh đi trước (là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ và chánh nghiệp). Chánh mạng, hay nuôi mạng chân chánh ở đây ám chỉ tất cả những gì cần thiết (cho sự sống thể xác của một người), cần phải được hợp pháp và vô hại, đối với mọi sinh vật khác.

Những vật chất tiêu biểu, như cơm áo, dụng cụ, nhà cửa, thuốc men, phương tiện di chuyển..v.v…của một người, phải luôn luôn minh bạch, nghĩa là do nghề nghiệp vô  hại, hợp pháp tạo ra, chứ không phải do sát sinh, trộm cướp, tà dâm, buôn lậu, hay khẩu nghiệp nịnh bợ, dối trá mà có. Vì vậy, những tài vật thu được, nhờ miệng lưỡi quyến rủ, lừa gạt, phù phép, hăm dọa, hay dua nịnh..v.v…nếu đem nuôi mạng, nhà Phật gọi là sống theo tà mạng.

6/Chánh tinh tấn (Sammà Vàyàmo) chuyên cần hành thiện, tu thân chỉ để dẹp bỏ tham vọng, giải thoát, chứ không vì mục đích nào khác, nhất là không vì được người khen, hay muốn cho xung quanh kính trọng mình có nhiều siêng năng đạo hạnh. Nhà Phật xem phẩm cách chánh tinh tấn nầy là cái công lực trường kỳ, để hành giả chắc chắn sẽ đạt đến cứu cánh. Vì nếu hành giả tinh tấn, mà để được người ta khen, hay tư lợi nào đó, thì khi người ta hết khen, hay khi không thu tư lợi nữa, họ sẽ hết tinh tấn. Chưa kể lời khen và lợi lộc, vốn làm cho con người say đắm, mắc dính, đi ngược chiều với sự tự do giải thoát.

7/Chánh niệm (Sammà Sai)chỉ niệm tưởng đến thiện pháp, nhất là các pháp thanh tịnh, có khả năng dẹp bỏ tham lam, sân hận, và si mê. Ðây là một pháp hành thanh lọc, không cho trần cấu bám vào tânh linh. Ðối với đạo Phật, chánh niệm còn có thể ví như chiếc áo giáp tỏa ánh sáng cực mạnh. Áo giáp thì ngăn chận không cho ác pháp làm tổn thương tâm thức. Còn ánh sáng cực mạnh thì soi rõ những tư duy mù mờ, ảo tưởng, bất minh…ẩn tàng nơi tiềm thức.

Trong đời sống hằng ngày, người không có chánh niệm là người chẳng bao giờ biết mình là ai, như thế nào, và khả năng của chính mình tới đâu, thì làm sao họ có thể đóng được vai trò gì hữu hiệu cho bản thân họ, khoan nói đến cho xã hội ? Nói cách khác, chánh niệm là sự an tịnh của «nước tâm», tách rời «nó» khỏi sự ảnh hưởng của sáu loại «gió trần» (là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp), và làm cho «nó» trở thành «cam lộ thủy», để dập tắt ba thứ lửa tham lam, sân hận, và si mê (phiền não). Nói tóm lại, người sống trong chánh niệm là người sống trong Thiền Pháp.

8/Chánh Ðịnh (Sammà Samàdhi),tâm thường an trú trong đề mục giải thoát, không chấp trước ngoại vật, không hướng về cái «ta» hay quả thiền, không để cho lòng tham có lý do lôi kéo. Ðây chính là công phu định lực được tận dụng, để tẩy sạch tham-sân-si trong bản tâm, mà không mong cầu chứng đạt một thần thông, hay quyền lực siêu nhiên nào hết.

Nhưng kinh Phật cũng tiết lộ : Trong chiều sâu vô tỷ thuộc phẩm thánh, sự tận diệt tham sân si, phiền não, lại chính là cái thần thông vô thượng, tuyệt vời. Thần thông đó, phàm nhân chưa bước vào thánh lưu, không thể nào nghĩ bàn được.

Chánh niệm và chánh định là hai chi đạo viên dung của con đường đưa đến giải thoát. Hai chi đạo nầy không thể nào có, nếu người Phật tử không nghiêm trì giới luật, và thực hành thành tựu pháp môn tu thiền. Nhất là phải tu thiền với tinh thần vô úy, và xem pháp thiền như cách sống thiết thực, thanh tịnh tự nhiên hằng ngày.

Bát Chánh Ðạo tuy là phần thứ tư trong Tứ Diệu Ðế nhà Phật, nhưng mà là phần pháp quan trọng nhất. Vì hầu hết những chủ đề thực tiễn tu thân, sống đạo, xuyên qua 48.000 pháp môn trong Phật Giáo, đều được phối hợp gián tiếp, hay trực tiếp, xung quanh «đệ tứ Diệu Ðế hay Bát Chánh Ðạo» này.

_________________

(Soạn xong tại Ivry Sur Seine, Pháp quốc, ngày 04-04-2003)

Cư sĩ Tuệ Lạc (Nguyễn Điều)

 

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS