Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home Thuyết trình MỘT SỐ KIẾN GIẢI VỀ CHỮ «VIPASSANÀ»

MỘT SỐ KIẾN GIẢI VỀ CHỮ «VIPASSANÀ»

 MỘT SỐ KIẾN GIẢI VỀ CHỮ «VIPASSANÀ»

liên quan đến hai pháp học và hành.

 

(CS Tuệ Lạc sưu tầm và trình bày ngày 19 Mars 2009)

 

Phần I 

 

 PHÁP HỌC

 

A-Thích nghĩa và phân tích ngữ căn :

 

-Danh từ tiếng Phạn «VIPASSANÀ» (-Đúng ra nên gọi là «tiếng Phạm») có nghĩa là sự thấy suốt qua, thấy chân tướng, gồm tiếp đầu ngữ «VI», nghĩa là vượt qua, không bị ngăn cản, không bị che mờ, thông suốt, thấu tới sự thật, và «PASSANÀ»«sự thấy».

-Nhưng chúng ta quen nghe dịch «Vipassanà» là «minh sát», tức là sự quan sát minh mẫn, thông suốt, rõ ràng.

-Động từ của Vipassanà là Vipassati, cũng gồm hai phần là «vi»«passati», Nghĩa là nhìn thấy rõ ràng, nhìn thấy toàn bộ, nhìn suốt qua, nhìn thấy thực tướng.

-Cả hai đều đến từ ngữ căn «VIPAS»=Chân kiến.

 

B-Quay lại sự thấy, có bốn là :

 

1-Thấy bằng mắt thịt (Cakkhupassanà) : Sự thấy bị hạn chế trong khung cảnh (thị trường), và bị chi phối bỡi điều kiện vật chất. Như thần kinh, khoảng cách, ánh sáng..v.v...

2-Thấy bằng tâm thức (Cittapassanà) : Với sự hợp tác của tưởng uẩn (Saññakhandha) nên bị méo mó bỡi lậu hoặc, và chấp trước (sava). Tâm người phàm thấy thuộc loại nầy.

3-Thấy bằng «ý thức» (Viññànapassanà) : Bị ảnh hưởng bỡi cả hai trường hợp trên cộng lại. Tức là thấy bằng mắt thịt và thấy bằng tưởng uẩn, như suy tư, học hành.v.v….

 

Đây là cái thấy có dụng ý vị kỷ, đầy “tập ấm” của đa số chúng sanh, trong đó có loài người.

4-Thấy bằng tịnh thức (Visuddhicittapassanà) : Thấy bằng tâm thanh tịnh, nội soi, hay “minh sát”. Tức là cái thấy nằm ngoài các ảnh hưởng trên. Nói cách khác, đó là thấy bằng Chánh định, qua chánh niệm.

 

C-Các mục tiêu (hay quả) của sự «thấy» (Passanàvipàka) :

1-Thấy để tránh khổ thân (Dukkhavajjanapassanà) : Thấy theo bản năng của loài người và thú vật, để tránh va chạm chướng ngại, hay nguy hiểm, trong sinh hoạt hằng ngày.

2-Thấy để «nhận» cảm giác (Samànapassanà) : Cái thấy được thực hiện vì đòi hỏi cảm giác của ngũ uẩn, qua ưa thích hay không ưa thích (ái, thủ, hữu), của phàm nhân, khi ghét khi thương, xoay chiều tình cảm, luân hồi.

3-Thấy để tiến hóa (Abhivuddhipassanà) : Cái thấy của tâm an tịnh, minh mẫn, dứt bỏ, giải thoát (thiền giả).

 

D-Những sự thấy trong đời sống

vật chất, phàm tục (Puthujjanapassanà) :

 

1-Thấy vì nghiệp, do thần kinh (Kammavàcakapassanà) : Thấy phiến diện, hạn cuộc.

2-Thấy vì hữu ý (Manopubbagamàpassanà), vì tư kiến : Do ý dẫn đầu, chủ quan.

3-Thấy theo những người xung quanh (Sanghikapassanà) : Thấy a dua, chung kiến, cộng nghiệp.

 

E- Các sự thấy do tưởng uẩn :

 

        1-Thấy do học lý thuyết (Sikkhapassanà),

        2-Thấy do thực hành sai (Micchakammapassanà),

        3-Thấy do thực hành đúng (Sammakammapassanà)

 

F-Những năng nghiệp trong sự «thấy»

của con người qua tất cả giác quan :

 

*Qua nhãn căn :

 

-Như câu chuyện ngụ ngôn, đêm rằm kia trăng rất sáng và không mây. Vì dân cư ngôi làng gần khu rừng, mỗi năm 1 lần, theo phong tục “cúng tế” bằng cách đốt “đèn trời”, “đèn đất”, cột lễ vật, trái cây hay xôi bánh vào đèn, rồi để trên mặt hồ, hay thả bay lên không gian. Một số đèn vướng vào cành cây, số khác lênh đênh trên mặt nước. Giống khỉ được dịp “hưởng” những thứ ấy, riết thành thói quen.  

 

Nhưng đêm nay không cúng lễ gì cả, chỉ có trời trong trăng sáng. Những con khỉ non nớt, quen thói “hái lộc” thấy trăng lơ lửng trên đầu cành và bóng nguyệt lung linh nằm trong nước, chúng tưởng “đèn trời”, nên tranh nhau leo lên cây và chạy xuống mặt hồ tìm kiếm. Chỉ có vài chú khỉ già ngồi yên trên mỏm đá, vì biết đó là những hình ảnh giả.

 

Ý nghĩa của sự nhìn thấy non nớt ấy có thể phát biểu như :

 

1-Không thấy gì hết là vô minh.

2-Thấy và hiểu sai là chấp kiến.

3-Thấy hiểu mà ưa thích là tham ái

4-Thấy hiểu rồi bất bình là sân hận

5-Thấy hiểu rồi hoang mang là hoài nghi

6-Thấy hiểu mà thanh tịnh là giác ngộ.

 

Tương tự như thế, luận giảng qua các căn khác, như :

*Qua Nhĩ căn, *Qua tỷ căn, *Qua thiệt căn,

*Quan thân căn, *Qua ý căn…

 

Ngoài ra :

-Người đui, hay động vật không có mắt, thì dùng thính giác để «thấy»…

-Một số thú vật dùng khứu giác (ngửi khi đi tới) để «thấy».

-Loài bò sát dùng vị giác (lưỡi nếm khi đi tới) để «thấy».

-Một số thú vật khác dùng xúc giác, va chạm để «thấy».

-Chư thiên dùng ý căn để thấy.

 

*Vì vậy trong tíếng Việt, ngoài động từ nhìn thấy ra, người ta cũng còn nói nghe thấy, ngửi thấy, nếm thấy, chạm thấy, và  nghĩ  thấy…một vật gì đó.

 

*Ngôn ngữ tuy là một phương tiện thông tin chế định. Nhưng sự chế định ấy đã trải qua suốt quá trình tiến hóa của loài người, nên nó chuyên chở hầu hết những tư duy tầm thường hay tế nhị, của tất cả hạng người, từ phàm phu tục tử, đến hạng người thanh cao, hướng thiện, trí thức.

 

G-Qui nạp :

 

* Nếu trong tiếng nói của mỗi dân tộc trên địa cầu, có những từ ngữ khác nhau, để diễn tả hai cách THẤY (một của mắt thịt và một của tinh thần), thì trong tiếng Phạn, ngôn ngữ của đức Phật (Pàlì hay Sanskrit), cũng có hai chữ mà kinh sách thường nhắc đến, là PassanàVipassanà.

 

*Hai danh từ nầy ngoài những gì chúng ta được biết, còn chuyên chở nhiều sự thật sâu sắc (Ariyasacca) khác, nằm trong tịnh thức của Thánh nhân. Nhưng rất tiếc, chúng ta không đủ khả năng để bàn đến.

 

*Suy cho cùng thì tất cả các nền văn hóa xưa nay, và bề dày của văn minh hiện đại, cũng chỉ là hoa trái của những cái THẤY trong tâm thức con người mà thôi.

 

Phần II 

 

 VIPASSANÀ, PAÑÑÀ,

PHÁP HÀNH.

 

a/Định nghĩa : Pháp hành là sự thực hiện pháp học, dùng công phu tích để tập hợp kinh nghiệm, và từ kinh nghiệm dẫn đến kết luận (cứu cánh), theo một cách thức nào đó.

 

b/Pháp hành căn bản trong đạo Phật gồm giới hạnh, định tâm,quan sát nơi mỗi hành giả. Còn TUỆ chỉ là kết quả của ba pháp ấy. TUỆ cũng còn gọi là «thấy» được cứu cánh (Vipassanà). Đừng hiểu lầm pháp hành chỉ đơn giản là «ngồi thiền». Pháp hành cũng bao gồm giữ giới, sống tỉnh thức hòa đồng (chánh niệm), và sinh hoạt tích cực với người khác.

 

c/Pháp hành trong đạo Phật, là sinh hoạt lành mạnh của thân phối hợp với tâm nơi mỗi hành giả, trong đời sống hằng ngày. Nhất là không nên hiểu lầm hành thiền chỉ liên quan đến tâm, chứ không liên quan đến thân.

 

d/Pháp hành quan trọng, làm nền tảng trong đạo Phật, là Tứ Niệm Xứ, bắt đầu bằng Niệm Thân, lấy thân làm «môi trường cơ bản» (hay xứ), để tâm được thuần thục với thực tại qua ba đề mục chánh niệm tiếp theo.

 

e/ Gợi ý :

 

*Thấy đúng thực trạng thân tâm (Nàmarùpa vipassanà) chính là mục tiêu tối hậu của hành đạo giải thoát. Trước tiên là giải thoát khỏi sự chi phối của thân sống nầy.

 

*Hành giả không nên được báo trước tiến trình thu hoạch thiền quả, vì thứ tự thành tựu tu chứng pháp thiền, khi nói ra, và làm cho người nghe hoan hỷ, mong mỏi, thì sẽ không còn là sự thật giải thoát nữa. Nó sẽ khiến cho thiền tâm hết thanh tịnh, và tạo dịp cho lòng tham nổi lên.

 

*Hành giả chỉ nên được hướng dẫn các cách vượt qua các chướng ngại, hay vượt qua những lôi cuốn, do hiện tượng phỉ lạc trong khi hành thiền mà thôi.

 

*Người hành thiền mà biết trước tiến trình thu hoạch ấy, thì không tránh khỏi mong đợi kết quả, dù đó là kết quả nói trong kinh điển chính thống. Trong lĩnh vực tâm linh, hễ có ý mong chờ là có lòng vụ lợi, mà có lòng vụ lợi, thì sẽ không bao giờ đạt được sự thanh tịnh đúng đắn. Và Chánh quả thanh cao của thiền không đến với kẻ mong chờ !

 

*Nếu vì tiến bộ, mà hành giả đạt được quả thiền, thì đó chỉ là lẽ tự nhiên. Nhưng nếu hành giả không bỏ qua, để chuyên chú đi tới, dừng lại mắc dính với những «thành công» đó «của mình», thì lậu hoặc vi tế chắc chắn phát sinh. Nó sẽ dẫn dắt hành giả rơi vào vọng thiền, rồi trở thành tà kiến.

 

*Thử nêu : Người tu Phật chắc ai cũng đã tự hỏi «Tu để làm gì ?». «-Tu để giải thoát !». «Giải thoát cái gì ?». Nếu câu trả lời tiếp theo là «Giải thoát cái khổ», thì xin thưa rằng «trông đợi kết quả thiền cũng là một loại khổ (vi tế)».

 

*Nói như thế, không có nghĩa là hành giả sẽ chẳng bao giờ biết thành quả xứng đáng của pháp thiền. -Mà bằng cách tự thân nghiệm chứng, trong khi hành thiền, nếu định hướng đúng, chính hành giả sẽ thấy (biết) chắc chắn kết quả cao thượng, đối với pháp mà mình đang hành. Người khác không thể tri thông được. Ngược lại, nếu định hướng sai, cũng chính hành giả sẽ tự biết sự bế tắc.

 

*Ví như «SỰ THẤY» luật vô thường, có 3 trường hợp :

 

-Nếu thấy luật vô thường như một cái gì «tàn nhẫn», như nó làm cho vạn vật thay đổi, phù du, nay còn mai mất, đưa con người đến cảnh chán nản, bi quan, bỏ cuộc….thì cái «thấy» đó là thấy biên kiến, bất mãn, bị động, hay thụ động.

 

-Nhưng nếu thấy luật vô thường như một sự «báo động» những đổi thay, nay còn mai mất, phù du, không thật….để nhắc nhở  hành giả chuẩn bị thiện nghiệp, bằng giới định tuệ, «hóa giải» những thăng trầm, hầu tiến hóa, tạo nhân duyên dẫn đến một hoàn cảnh khác, lành mạnh hơn, tốt đẹp hơn, thì cái «thấy» đó tuy cũng là một loại biên kiến, nhưng hướng thiện và tích cực. Nhà Phật gọi biên kiến đó là sợ khổ, hướng thiện, đáng khen nhưng hữu lậu.

 

-Nhưng nếu thấy luật vô thường như một pháp hành tự nhiên, phải có. Pháp hành đó không tốt, cũng không xấu, không đáng thích, cũng không đáng sợ. Luật vô thường ấy cần thiết cho mọi vận hành chu kỳ trong tam giới. Chẳng hạng như vô thường đã làm cho tử, thì vô thường cũng sẽ làm cho sinh. Vô thường đã làm cho lùi, thì vô thương cũng sẽ làm cho tiến. Vô thường đã làm cho mất, thì vô thường cũng sẽ làm cho còn. Vô thường đã làm cho nghèo, thì vô thường cũng sẽ làm cho giàu. Vô thường đã làm cho tan, thì vô thường cũng sẽ làm cho hợp…v.v….Như cây kim trên mặt đồng hồ. Nếu vô thường luôn luôn «đẩy» nó đi về phía sau12 giờ, thì vô thường cũng luôn luôn kéo nó hướng ra phía trước12 giờ.

 

-THẤY ĐÚNG luật vô thường (Aniccàvipassanà) như thế, thì luật vô thường sẽ làm cho hành giả tự tại, giải thoát». Giải thoát khỏi «tiêu cực» lẫn giải thoát khỏi «tích cực», hay giải thoát khỏi bi quan, lẫn giải thoát khỏi lạc quan.

 

-Đó là THẤY TRUNG ĐẠO (Majjhimapatipadàvipassanà), THẤY vượt lên khỏi nhị biên, tích cực và tiêu cực. Thấy của Xả trong tứ vô lượng tâm (Catumahàvihàra).

 

-Và chỉ có giới hạnh (sìla), chánh định (sammà samàdhi), chánh quan sát (vipassanà) và chánh trí (paññà) mới đưa đến cái THẤY TRUNG ĐẠO như thế. (-Nói tắc là giới, định, minh sát, và trí tuệ).

 

*Đến đây cần phân biệt hai trường hợp :

 

1/Minh sát bình thường (vipassanà) với trí tuệ thông thường (ñàna),

2/Minh sát thanh tịnh (samàdhi vipassanà) với trí tuệ  kim cương chánh định (paññà sammà saṭi). 

 

-Minh sát bình thường (vipassanà) là dùng niềm tin trong pháp học, với trí tuệ thông thường (ñàna) hay trí văn, để quan sát cảm thọ. Nói cách khác là dùng tưởng uẩn để quan sát thọ uẩn. Sự quan sát nầy (không định lực), nên chỉ thấy cảm thọ qua cái «bóng», không thật. «Trí văn» trong sự quan sát nầy, nếu ví như cây gươm, thì chỉ là cây gươm thông thường, không chặt nổi ác pháp.

 

-Quan sát thanh tịnh (samàdhi vipassanà) với trí tuệ chánh định (paññà sammà saṭi), là lấy «định quả» của pháp hành, để nhận diện cảm thọ. Nói cách khác là dùng «hành uẩn» để «biết rõ» thọ uẩn. Quan sát cảm thọ với định lực như thế, ví như sự nhận diện tận gốc, để chặt đứt ác pháp bằng «cây gươm» sắc bén, là gươm trí tuệ (paññà) đã mài dũa qua «chánh định».

 

-Trong tiếng Việt chỉ có một danh từ «TRÍ TUỆ», nhưng tiếng Pàli có hai từ ngữ khác nhau, chuyên chở hai ý nghĩa khác nhau, là Ñàna Paññà. «Ñàna» là trí tuệ thông thường, chưa được tinh luyện, như cây gươm chưa mài dũa, không sắc bén. Còn «Paññà» là trí tuệ định luyện, như cây gươm đã mài dũa, vô cùng sắc bén. Có sách gọi «gươm trí tuệ» là «gươm kim cương bát nhã».

 

*Quay lại pháp hành, khi nghe nói hai tiếng NIỆM THÂN , chúng ta nên hiểu nó bao gồm thân và tâm, vì chữ thân tượng trưng cho sắc pháp, và chữ niệm tương trưng cho danh pháp (hay tâm). Chỉ có danh pháp hay tâm, mới có năng lực kết hợp với thân, tạo ra công phu chánh niệm. Còn xác thân thuần túy chỉ là vật chất, hay sắc pháp.(Tứ Đại) mà thôi.

   

*Nhớ hơi thở vô ra (Ànàpànasati) hay An-Ban Thủ-Ý chính là pháp hành của niệm thân hữu hiệu nhất.

 

*Theo Buddhaghosa giải trong tạng Luật, thì :

 

“Assàsoti bahi nikkhamanavàto.

Passàsoti antopavisanavàto”

 

-Nghĩa là

 

“Thở ra khí hành (hay gió động) đẩy ra.

Thở vô khí hành (hay gió động) hít vô”.

 

Và :

“Sabbakàya assasati ca

Sabbakàya passasati ca”.

-Nghĩa là

Toàn thân thở ra trước,

toàn thân hít vào sau.

 

-Thiền ngữ nầy ngụ ý :

«Thở ra mà tâm thanh tịnh,

 không hối tiếc cái gì, thì giải thoá ».

 

«Thở vô mà tâm tự tại,

không khát vọng cái gì, thì sống vui».

 

-Ở đây ám chỉ rằng :

*Hết tuổi thọ, thở ra mà không hít vô, thì thoát một kiếp.

*Còn tuổi thọ, thở ra rồi hít vô thanh tịnh, thì sống vui.

 

Kinh văn nòng cốt là :

«Sabbakàya àtàpi sai sampajaññ

Nhớ biết toàn thân mìnhnền tảng,

định hướng thiền tâm đúng.

 

Và hoa trái của pháp hành là đắc chứng trung đạo.

 

*Nhờ Đắc Chứng Trung Đạo mà hành giả mới có trí tuệ thanh tịnh (Visuddhipaññà), khám phá ra được Tương Quan Nhân Quả do đâu phát sinh.

 

*Nhờ Đắc Chứng Trung Đạo mà hành giả «đứng trên» luật vô thường, không bị nó ảnh hưởng, thanh tịnh thấy nó luôn luôn biến hành qua nhị biên, với dạng xoay vòng, chu kỳ.

 

*Và cũng khám phá ra rằng : «chính chu kỳ là hiện tượng, và là nơi phát sinh luật nhân quả».

 

 

*Giải thích :

 

-Vì pháp hành (Saṅkhàradhammà) nằm trên chu kỳ (đi tròn), nên những nghiệp đã làm có vẻ lùi lại sau lưng (quá khứ), nhưng sự thật chúng vẫn nằm đó để xuất hiện trước mặt, tức là trở thành tương lai, trong vòng luân hồi sắp tới.

 

*Nghiệp đã làm ở đây chính là vướng trong sự sống, bất cứ chúng sanh nào, một khi còn mê sống (lục dục), thì dính chặt trong chu kỳ luân hồi, chúng sanh ấy, chắc chắn sẽ đương nhiên đối diện với quả báo chờ sẵn, để gặt hái tất cả những gì mình đã làm.

 

*Ví như khi chúng ta đang đi trên một vòng tròn, nếu chúng ta vất một vật dơ trên con đường, và tiếp tục hành trình, thì vật dơ ấy tuy đã lùi lại sau lưng chúng ta (quá khứ), nhưng vào vòng đi (chu kỳ) tiếp theo, nó sẽ «sẽ» nằm sẵn ở đó, trước mặt chờ chúng ta (tương lai) !

 

*Nghĩa là, đối với những pháp hành trên các chu kỳ nối tiếp, thì hai thời quá khứ và tương lai sẽ hoán vị (đổi chỗ) nhau, qua trung gian pháp hành hiện tại. Đây là một qui luật rất xác chứng vừa khoa học vừa triết học !

 

Tóm lại

 

*Nếu xem sự giải thoátcứu cánh, giữa tam giới sinh tử luân hồi, thì sự giải thoát phải là kết quả của THẤY ĐÚNG (hay Chân Kiến=Vipassanà), qua hành đạo.

 

*Và sự thấy đúng hay thấy sự thật (Ariyasacca passanà) ấy, còn một cái tên khác là Chánh Giác, tức là biết đúng trong mọi cảnh giới, mọi tâm pháp, mọi sắc pháp, hay thành Phật (Sambuddha).

 

 

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS