Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home Thuyết trình Pháp Hành trong sự sống.

Pháp Hành trong sự sống.

Đề tài:

Mục tiêu và Pháp hành

của người học Phật tại gia.

 


Phần II

Pháp Hành trong sự sống.

(Nghiên cứu ghi lại để chia xẻ giữa các hàng cư sĩ) –

(Ngày 05/03/2009)

 

 

Theo Phật học, «pháp hành trong sự sống hiện tại»

của Tam Giới Sinh Linh, «quan sát” từ cao đến thấp, có 5 là :

 

 

I-Đối với các bậc đã hết lậu hoặc, viên tròn Ba La Mật, hoàn toàn tiêu trừ 3 gốc phiền não tham sân si (Asava hay lobhadosamohavimutti), nhưng các Ngài chưa nhập diệt, như Toàn Giác Phật, Độc Giác Phật, và Thinh Văn A–La-Hán Phật (Sammàsambuddha, Paccekabuddha, Sàvakabuddha), thì pháp hành trong sự sống hằng ngày của các Ngài, là sống trong các bậc thiền hữu sắcvô sắc. Khi xả thiền thì các Ngài thường xuyên thanh tịnh, để thuyết pháp độ sinh, hay để làm những việc cần thiết cho thân thể lành mạnh, như khất thực, ăn uống, vệ sinh, tắm rửa.v.v…Trong những lúc ấy pháp hành trong thức tánh của các Ngài là duy tác, vô lậu, tỏa rộng Tứ Đại Vô Lượng Tâm (Catu mahàvihàra) TỪ BI HỶ XẢ đến muôn loài chúng sanh.

 

II-Đối với các bậc đã vững vàng trên đường tiêu trừ phiền não (Visuddhikamaggo, hay Mahaggatacetopuggalo), như chư Thánh nhân, từ Tu Đà Hườn (Sotàpatti) đến A–Na-Hàm (Ànàgàmi), thì pháp hành hằng ngày của các Ngài là sinh hoạt với 59 Tịnh Quang Tâm (Sobhanacittà), bao gồm cả xuất nhập các bậc thiền dục giới, hữu sắc, và vô sắc.

 

III-Đối với các “đại nhân thiện” hay Đại Bồ Tát (Mahà kusalamanusso, Bodhisatto), như Chân Hạnh Tỳ Kheo, Chân Hạnh Tỳ Kheo Ni, Chân Hạnh Sa Di, Chân Hạnh Sa Di Ni, Chân Hạnh Đạo Sĩ, Chân Hạnh Bồ-Tát, Chân Hạnh Đại Hiền Nhân, Chân Hạnh Thiện Nam, và Chân Hạnh Tín Nữ, thì pháp hành hằng ngày của họ, là sống với 12 tâm thiện (Kusalacittà) và 18 tâm quả (Vipàkacitta).

 

-Mười tám tâm quả nầy còn được gọi là những “tâm vô hậu” hay “tâm vô cấu” (Savavippayuttacitta), vì chúng phát sinh rất ngắn ngủi, sau đó chấm dứt, “nhường chỗ” cho một hay nhiều “tâm sát-na” khác. Chúng không cấu kết với lậu hoặc nào cả. Trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), chúng còn được gọi tâm không làm nhân (Ahetukacittà), vì chúng không câu hữu với 6 nhân là tham, sân, si, và vô tham, vô sân, vô si.

 

Chú ý : Tuy hình thức chữ viết là “ahetu”, nhưng chúng tôi không dịch chúng là “tâm vô nhân”, sợ hiểu lầm rằng chúng không có nguyên nhân. Trên thực tế, chúng là những “tâm quả” vẫn có những “nguyên nhân lưu lai” từ vô số kiếp trước.

 

Nghĩa là các bậc “Đại Nhân Thiện” nầy, hằng ngày luôn luôn sống đúng theo các pháp hành sau đây :

 

a/Thập Độ (Dasa Pàramì). Tàu âm là Thập Ba La Mật, dịch là thập đáo bỉ ngạn, hay “10 hạnh đến bờ” thoát khổ :

 

                          1-Bố thí độ (Dànapàramì),

                          2-Trì giới độ (Sìlapàramì),

                          3-Xuất gia độ (Nekkhammmapàramì),

                          4-Trí tuệ độ (Paññapàramì),

                          5-Tinh tấn độ (Viriyapàramì),

                          6-Nhẫn nại độ (Khantìpàramì),

                          7-Chân thật độ (Saccapàramì),

                          8-Quyết định độ (Adiṭṭhànapàramì),

                          9-Bác ái độ (Mettàpàramì), và

                         10- độ (Upekhàpàramì).

 

Chú ý, mỗi độ có 3 “bờ (hay ngạn) là “bờ kia”(pàramì), “bờ trên”(Upapàramì), và “bờ tối thượng”(Paramatthapàramì), nên thập độ có tổng cộng là 30 bậc, hay “bờ” (độ ngạn).

 

Ví dụ về bố thí độ :

-“Bố thí đến bờ kia” là mới chỉ cho hết tất cả những gì là của cải ngoại thân, như gia tài, tiền bạc, ngai vàng, danh

 

vọng, vợ con.v.v…  -“Bố thí đến bờ trên” là sẵn sàng hiến dâng những bộ phận trong thân thể của mình, trừ cái đầu và quả tim. -Còn “bố thí đến bờ tối thượng” cho luôn sinh mạng, sự sống.

Rồi trì giới cũng tương tự  như vậy :

-Nếu trì giới phải mất tất cả những gì là của cải, quyền lực, danh vọng ngoại thân, mà vẫn trì giới, thì đó mới chỉ là trì giới đến bờ kia. -Và trì giới phải bị mất một hay nhiều bộ phận trong cơ thể nhưng chưa chết, vẫn sẵn sàng trì giới, thì đó là trì giới đến bờ trên. -Sau cùng là nếu trì giới phải mất mạng, hành giả vẫn quyết tâm giữ gìn giới luật, thì đó chính là trì giới đến bờ tối thuợng.

 

-Và tám “độ” còn lại (từ xuất gia đến xả) cũng tương tự như bố thí và trì giới Ba-La-Mật vậy !

 

 b/Trợ Pháp Bồ Đề (Bodhi pakkhiya kathu dhammà), còn gọi là Thất Bồ Đề Phần (Satta Bodhaṃsa), gồm Ba Mươi Bảy Phẩm Bồ Đề (Sattatiṃsa Bojjhaṅgadhammà), chia ra :

 

*Thứ nhất Tứ Niệm Xứ (Catu Satipatthàna) có 4 là :.

-Niệm thân (kàyanupassanà), là định tâm trong thân, trong hơi thở, hay 1 trong 32 thể trược (thuộc về thân).

-Niệm thọ (vedanà anupassanà), là quán chiếu tất cả cảm thọ, vui, khổ, và trung tính.

-Niệm tâm (cittànupassanà), là định tỉnh quan sát tất cả những biến chuyển của tâm, trước các cảm thọ.

-Và niệm pháp (dhammànupassanà), là tâm thanh tịnh nhận diện các pháp trong ngũ uẩn (sắc, thọ tưởng, hành, thức). Tất cả chỉ là giả hợp, tạm bợ. Vô th ường.

 

*Thứ hai Tứ Chánh Cần (Catu sammàpaddhàna), là :

-Chuyên cần diệt trừ những ác pháp đang có.

-Chuyên cần ngăn chận ác pháp chưa sinh, không để sinh.

-Chuyên cần phát triển thiện pháp đang có cho lớn mạnh.

-Chuyên cần tạo điều kiện cho những thiện pháp chưa có, được phát sinh.

 

*Thứ ba Tứ Như Ý Túc, cũng gọi là Tứ Thần Túc (Catuddhipàda), gồm :

-Dục như ý túc hay Mãn ý thần túc (Chandiddhipàda)(1) : đạt tâm nguyện, thiện pháp thành tựu như ý muốn.

-Niệm như ý túc hay Niệm thần túc (Cittiddhipàda) : Niệm nhớ (=chánh định) như ý trong thiện pháp.

-Tấn như ý túc hay Tinh tấn thần túc (Viriyiddhipàda) : Tinh tấn đầy đủ, như ý.

-Tư như ý túc hay Khán tâm thần túc (Mamsiddhipàda) : Tư thức thõa mãn, kiến tánh như ý, quán tâm như ý.

 

*Thứ tư Ngũ Căn (Pañcindriya), gồm :

-Tín căn(Saddhiṅdriya) : Tin vào thực nghiệm chánh thiền.

-Tấn căn(Viriyiṅdriya) : Tinh tấn ăn sâu trong thiện pháp.

-Niệm căn(Saṭiṅdriya) : Niệm nhớ dính chặc trong thiện pháp.

-Định căn(Samàdhiṅdriya) : Định tâm vững chắc trong thiền.

-Tuệ căn(Paññiṅdriya) : Minh trí không rời thiện pháp.

 

*Thứ năm Ngũ Lực (Pañcabàla), gồm :

-Tín lực (Saddhabàla), sức mạnh của đức tin vào chứng đắc thiện pháp.

-Tấn lực (Viriyabàla), sức mạnh của chuyên cần do thực nghiệm thiện pháp.

-Niệm lực (Saṭibàla), sức mạnh của trí nhớ do chứng nghiệm thiện pháp.

-Định lực (Samàdhibàla), sức mạnh của định tâm trong thành tựu chánh thiền.

-Tuệ lực (Paññabàla), sức mạnh của trí tuệ, thông suốt, do chánh định trong thiện pháp.

 

*Thứ sáu Thất Giác chi (Satta Sambojjhaṅga), gồm :

-Niệm giác chi (Saṭibojjhaṅga), chánh niệm đưa đến giác ngộ.

-Trạch pháp giác chi (Dhamma vicaya bojjaṅga), hành đúng chánh pháp đưa đến giác ngộ.

-Tấn giác chi (Viriya sambojjhaṅga), chánh tinh tấn luôn luôn hướng đến giác ngộ.

-Hỷ giác chi (Pìti sambojjhaṅga), hoan hỷ và thuần thục trong thiện pháp đưa đến giác ngộ.

-Khinh an giác chi (Passaddhi sambojjhaṅga), nhẹ nhàng trong pháp hành để giác ngộ.

-Định giác chi (Samãdhi sambojjhaṅga), thuần định để chánh đạt giác ngộ.

-Xả giác chi (Upekkhà sambojjhaṅga), không chấp trước, bình đẳng, do giác ngộ.

 

*Và thứ bảy Bát Chánh Đạo (Atthangikamagga).gồm :

-Chánh kiến (Sammảdiṭṭhi) : Thấy hiểu chân chánh.

-Chánh tư duy (Sammàsaṅkappo) : Suy nghĩ chân chánh.

-Chánh ngữ (Sammà vàcà) : Nói lời chân chánh.

-Chánh nghiệp (Sammàkammanto) : Hành động chân chánh

-Chánh mạng (Sammàjìvo) : Nuôi mạng chân chánh.

-Chánh tinh tấn (Sammàvàyàmo) : Cố gắng chân chánh.

-Chánh niệm (Sammà saṭi) : Niệm tưởng chân chánh.

-Chánh Định (Sammà samàdhi) : Định tâm chân chánh.

 

IV-Đối với các hàng phàm phu ít duyên lành tiến hóa, thì pháp hành hằng ngày của họ, là sống thường xuyên với 12 tâm bất thiện (dvàdasa akusalacittà), 15 tâm vô nhân (tức18 ahetukacitta trừ 3 kiriyacitta), và thỉnh thoảng với một số ít nào đó trong 12 tâm thiện (dvàdasa kusalacitta).

 

Đối với chúng sinh phàm phu, ít duyên lành tiến hóa loại nầy, đức Phật đã thuyết ra ba pháp ng thiện, là  giới, tịnh tâm (định), trí quan sát (tuệ), để trước tiên ngăn chận bốn ác đạo (A-tu-la, súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục), được tái sinh làm người, rồi nhờ đó giúp họ định hướng, tiến gần đến thiện hạnh. Nghĩa là hạng phàm phu nầy thỉnh thoảng có thể hiểubiết giá trị hạnh bố thí, tập chia sớt lợi lộc của mình đến chúng sanh khác nói chung, hay đến đồng loại khác nói riêng.

 

Hạnh bố thí (Dàna) của hạng sinh linh nầy khi tương đối thuần thục, có thể làm phát khởi tâm trì giới, trước khi tập tham thiền, và an tịnh quán xét. Theo kinh điển thì trì giới có 3 :

 

-Tri giới của hàng xuất gia bậc cao : Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni (Bhikkhù, Bhikkhùnì).

-Trì giới của hàng xuất gia bậc thấp : Sa Di, Sa Di Ni (Sàmanera, Samanerì).

-Trì giới của hàng tại gia : Cận sự nam (Upàsaka), Cận sự nữ (Upàsikà), còn gọi là thiện-nam tín-nữ, gồm 5, 8, hay 10 giới.

 

Cần nhấn mạnh rằng :

 

*Giới (sìla), hay luật tránh làm ác, là phẩm cách sống chung (cộng nghiệp). Giới Tịnh tâm (Samatha) là hai pháp hành phải được thực hiện trọn vẹn, thứ tự, và liên tục, ở cả ba nơi thân, khẩuý (kàyavacìmano kusalakammà).

 

*Còn trí-tuệ ám chỉ kết quả của giới hạnh trong sạch (Sìlavisuđhi) và của định tâm chân chánh (Sammà samàdhi).

 

Trí tuệ (Prajña), có nghĩa là sức sáng được hội tụ, để thấy hay biết xuyên thấu, không bị ngăn ngại. Trí tuệ cũng được xem là sự trong lành, minh mẫn của tâm thức, kết quả của hai pháp hành (giới và định). Trí tuệ cũng có nghĩa là đã thanh lọc tưởng uẩn trong đời sống, vốn thường xuyên bị thọ uẩn (vui buồn) và phiền não đè nặng.

 

*Vì vậy, khi đề cập sơ qua địnhminh sát (tuệ), người ta có cảm tưởng như vấn đề chỉ thuộc về tâm thức (hay danh pháp) mà thôi, không liên quan gì đến thân và khẩu (hay sắc pháp). Nhưng trong thực hành, đây là một pháp Phật vô cùng sâu sắc và tế nhị, vì thân (gồm cả khẩu) là nơi chất chứa lẫn biểu lộ những cảm thọ của ý thức, đối tượng của minh sát và trí tuệ !

 

V-Cuối cùng, đối với các hàng phàm tục hoàn toàn chưa biết hướng thiện, thì pháp hành hằng ngày của họ là sống thường xuyên với 12 tâm bất thiện (dvàdasa akusalacitta), và đương nhiên là với 15 tâm vô nhân do nghiệp lực phát tác (atthadasa ahetukacitta kammena). Người ta gọi đó là bản năng, hay pháp hành của nghiệp.

 

Và cũng vì chủng tử thiện của hạng chúng sanh nầy quá yếu, nên đức Phật khi cứu độ, Ngài đã đầu tiên nêu ra quả phúc của hạnh bố thí, để tạo mầm ưa thích hướng thiện, tập cho “họ” muốn hưởng phúc thì hãy mở lòng ra, chia xẻ trong muôn một, những gì thuộc về mình cho người. Sau đó Phật mới đề cập đến sự trì giớitịnh tâm (hay tham thiền). Hạng chúng sinh nầy vốn sống nhiều với lòng tham (lobha), với khát vọng (ràga), với ái dục (tanhà), và với đam mê (chanda), nên muốn cứu họ, đức Phật đã dùng sự gặt hái quả phúc, mà tâm thức họ có thể xác nhận trong hiện tại, như thương người thì được người thương lại, giúp kẻ khác thì được kẻ khác mang ơn, làm tốt thì được danh tiếng..v..v… Và Ngài bảo cho họ biết, khi chết người “tốt” sẽ ít hối hận, có thể sinh vào kiếp sau bình an, còn phúc để hưởng ..v.v…

 

Dĩ nhiên, luật nghiệp quả (Kamma vipàka dhammà) cũng chứng minh cho họ thấy rằng : Tất cả những “thu hoạch” trong kiếp nầy hay trong kiếp sau, là do chính đương sự tạo các nghiệp thiện, như hạnh bố thí, trì giới, và tịnh tâm tham thiền, chứ không do quyền năng nào ban cho cả.

 

Tuyệt đại đa số chúng sanh cõi dục giới nằm trong hạng nầy. Nếu lấy 2 loại cảm thọ VUI (hài lòng=Mànàpa), và KHỔ (không hài lòng=Amànàpa) làm tiêu chuẩn, để nói thì :

 

-Những chúng sanh cao hơn loài người (như chư thiên) đang thọ vui nhiều hơn thọ khổ trong hiện kiếp.

-Những chúng sanh thấp hơn loài người (như thú vật trở xuống) đang thọ khổ nhiều hơn thọ vui trong hiện kiếp

 

-Chỉ có nhân loại, thì thọ vui thọ khổ xen kẽ, thay đổi tương đương hay chênh lệch nhau, tùy theo trình độ quả phúc và tâm hướng thiện nhiều hay ít.

 

Từ đó, chúng ta có thể suy ra rằng : Cõi người là cõi thuận duyên nhất để hướng thiện, tiến hóa, đạt mục tiêu giải thoát. Vì loài người không có phúc thọ quá nhiều (như các cõi trời) để bị lạc cảnh che mờ, quên đi cứu cánh Niết Bàn (Nirvàna). Loài người cũng không bị khổ nhiều quá, như 4 ác đạo, để làm cho tâm linh hoàn toàn đen tối, thấp thỏi, chẳng nhận ra con đường tiến hóa, hướng đến Niết Bàn.  

 

Thân tâm loài người (Puthujjana Nàmarũpa), hay Ngũ uẩn (Pañcakhandhà) có thể xem là một tập hợp kỳ diệu. Ở đó, sức mạnh của thức biến hành (tương dương với năng lượng vô biên của vũ trụ (énergie cosmique), hằng đóng vai “kho tàng chất chứa linh lực và kinh nghiệm”. Nên “thân tâm” đó, nếu được hướng dẫn đầy đủ trong phạm hạnh, thì sẽ trở thành tinh anh, hùng hậu, để sau cùng có thể “phát quang”, soi sáng, giác ngộ (Vijjà). Nhưng nếu nó bị đóng kín, bị che áng, thì nó sẽ hoàn toàn VÔ MINH (Avijjà), chẳng bao giờ nhận ra con đường tiến hóa, thoát khỏi đau khổ sinh tử luân hồi.

 

Nói tóm lại, nếu trình bày PHÁP HÀNH từ dưới tiến lên (hay từ thấp đến cao), thì ba “pháp căn bản”, khả dĩ dành cho nhân loại, phàm phu tục tử hướng thiện, vẫn là BỐ THÍ, TRÌ GIỚITHAM THIỀN (Dàna, sìla, samatha).

 

Nhưng khi kiểm chứng trên lịch trình tiến hóa, chúng ta thấy rằng : Ba pháp ấy sẽ tự nhiên trở thành GIỚI, ĐỊNH, TUỆ, để sau cùng khi buớc vào thánh vức, trong hành giả chỉ còn ĐỊNH TUỆ. “ĐịnhTuệ” ở đây không phải chỉ nằm trong một lãnh vực duy nhất là tâm linh (danh), mà nó vốn nằm trong cả hai lãnh vực thân và tâm, hay danh và sắc. –

 

*Khi Định và Tuệ không rời thân và tâm, thì hành giả mới có thể chứng đắc đạo quả giải thoát, sống trong an vui tự tại đến hết tuổi thọ. Và khi xả bỏ báo thân giả hợp nầy, thì linh thức không còn sinh tử luân hồi nữa. Định và Tuệ ấy chính là hiện tại tịch tịnh vậy.

________________________________________________

 

 

*Chú thích : ”Chanda” cũng có nghĩa là “sở nguyện” hay “dục nguyện” (Theo Buddhaghosa , trong Tạng Luật, phần 13 phép Tăng Tàn, Sanghàdisesa).

 

 

Tuệ lạc thuyết trình

 

***

Mise à jour le Lundi, 06 Juin 2011 07:50  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS