Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home Thuyết trình PHÁP HÀNH của người HỌC PHẬT

PHÁP HÀNH của người HỌC PHẬT

 Phần II

 PHÁP HÀNH của người HỌC PHẬT.


 

 *Định nghĩa danh từ quan trọng :

 

«Pháp» có nhiều nghĩa, như «Pháp là tất cả những gì tâm biết và chưa biết».

Nhưng «Pháp» ở đây ám chỉ cách thức, phương pháp (tiếng Phật là vidhidhammà) để hóa giải sự chấp thủ, vướng mắc cái khổ của chúng sinh nói chung, và con người nói riêng, tiến tới lành mạnh hóa thântâm.                    

«Hành» là thực hiện bỏ ác, làm sinh khởi và phát triển thiện nghiệp đang có (kusala bhàvanà), để thanh tịnh thân tâm. Nói cách khác, «hành» là tu tập, ứng dụng sự học Phật.

 

            

*Gợi ý để thảo luận :

1-Con người là một tổng hợp vật chất và tinh thần, thân và tâm (kàyacitta). Phật giáo gọi tổng hợp đó là danh sắc (nàmarùpa), hay ngũ uẩn (pañcakhandhà), gồm sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, và thức uẩn.

2-Pháp hành đầu tiên làm cho thân tâm lành mạnh là giữ giới.        

3-Cảnh giác để không phạm giới, là căn bản «hành đạo».          

4-Tỉnh thức để tâm không xao động là «sống thiền».       

5-Giới (Sìla) là nền tảng của chánh định.              

6-Giới uốn nắn thân, khẩu, và ý trong thiện pháp.          

7-Chánh định (Sammà Samàdhi) là nội lực của thiền tâm.          

8-Minh sát (vipassanà), hay quan sát minh mẫn, là diệu dụng của thiền lực.      

9-Không chánh định, thì không thể có minh sát thật sự đ ược.        

10-Khi minh sát thì thấy, nhưng không phải thấy để hiểu, mà là thấy để biết đúng thân tâm, trong cả bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, và ngồi), trong giây phút hiện tại.

11-Vì minh sát đặt nền tảng trên chánh định, nên nó có khả năng nhận diện các biến hành vi tế, của thân và của tâm.      

12-Thấy đúng các biến hành vi tế (trong thân và tâm, hay trong danh sắc) thì mới chứng đắc được kiến tánh vô thường.

13-Nếu không có «nội lực chánh định» thì không đủ sức nhìn rõ biến hành vi tế, hay không nhận diện nổi pháp vô thường, nên không có khả năng minh sát đúng nghĩa. Mà không minh sát đúng nghĩa, thì khó giác ngộ sự thật. Do đó cái BIẾT của phàm nhân thường cạn cợt, lờ mờ, không vững chắc.

14-Nói đến nội lực là nói đến năng lượng, nói đến sức mạnh, hay nói đến khả năng thúc đẩy, giữ cho pháp hành liên tục.        

15-Khi đạt được chánh định rồi quan sát, thì tâm thức hành giả mới thấy và biết (như thật) sự thay đổi trong danh sắc, khác với cái thấy và hiểu của của phàm phu. Rồi tịnh giả đắc chứng một cách vi tế pháp vô thường (aniccàdhammà).

16-Đắc chứng vi tế pháp vô thường, không có nghĩa là «chấm dứt» đuợc sự chuyển biến vô thường của vũ trụ. Vì trong tam giới, luật vô thưòng là một luật vĩnh viễn. Mà đắc chứng vi tế pháp vô thường là khi ấy tâm hết bị ảnh hưởng bỡi mọi thay đổi trong danh sắc. Từ đó, hành giả nhận chân mọi bất toại nguyện, mọi xung đột…chính là mầm móng của khổ não (dukkhà), và hành giả cũng xác định luôn sự bất lực, của tâm thức chúng sinh còn vô minh, bị cuốn trôi trong vòng luân hồi. Và đó là vô ngã (anattà).

17-Vô thường, khổ não, vô ngã là ba pháp trạng hằng có trong danh sắc, hay ngũ uẩn hợp tan của tất cả chúng sanh.

 

*Hãy nhắc lại «năm nội lực» hay Ngũ Lực (Pañcabàla) trong 37 Pháp Bồ Đề là :

               1/ Tín lực (Saddhàbàla),

               2/ Tấn lực (Viriyabàla),

               3/ Niệm lực (Saṭibàla),

               4/ Định lực (Samàdhibàla), và

               5/ Tuệ lực (Paññabàla).

 

Ngũ lực ở đây cũng là năm sức đẩy liên hoàn, năm tương tác kiên cố, xây dựng tiến trình đắc chứng, tương tự như các «đoạn đường» Bát chánh đạo (Atthaṅgikamagga), chứ không phải là những chi pháp độc lập, rời rạc.

 

Xin tuần tự lược giải :

 

*Tín lựcsức mạnh của lòng tin do kinh nghiệm hành đạo, biết rõ, và xác chứng qua chánh định, chứ không phải là sức mạnh của «tin tưởng» do nghe hiểu, qua phân tách hợp lý (logique). Nói cách khác, tín lực không phải là «sức mạnh» của niềm tin trên lý thuyết, mà là sức mạnh của ĐỨC TIN do BIẾT qua tu trì, không có sự nghi ngờ.

-Xin nhắc lại rằng niềm tin có 2 nguyên nhân : Một là do mình chứng nghiệm rồi tin. Hai là do tín nhiệm kẻ khác rồi tin theo. Và TÍN LỰC ở đây là do mình chứng đạt rồi tin, nên mới có Sức Mạnh Bồ Đề kiên cố như thế !

*Tấn lực cũng vậy. Sức mạnh đẩy tới nầy nhờ «kinh qua thực nghiệm, mà phát sinh tinh tấn», nên sự tinh cần rất vững chắc. Nó là sức đẩy rất hùng hậu, vì mặt khác nó có nhẫn nại Ba-La-Mật (Khantìparamì) hổ trợ, nên không thể suy giảm.

*Niệm lực là sức mạnh của chánh niệm, có tín tấn làm tiềm năng, nên nó không phóng túng, không lạc hướng, không gián đoạn. Nhất là sức mạnh (Niệm Lực) nầy chỉ nằm trong Tứ-Niệm-Xứ (Catu saṭipatthàna), gồm niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, và niệm pháp. (Hay Àtàpi saṭisampajañña).

*Định lực là sức mạnh của hội tụ thiền quả, nhờ chánh định được củng cố, để quan sát minh mẫn (minh sát=vipassanà), nên có kiến tánh hùng hậu, tức là thấy chắc, và biết chắc nơi tâm (Sandiṭṭhiko). Đó là một trong bảy ân đức của Pháp Bảo, do đức Phật khẩu truyền (Svàkhàto Bhagavatà).

*Tuệ lực là sức mạnh của Trí Bát Nhã (paññā) thấy đạo giải thoát (Nibbindatidiṭṭhi), hay của trí tu thành tựu, trí vẹt màng vô minh (avijjàvimutti), quét sạch lậu hoặc (asava), thông thấu pháp hành (Asekhà), không còn chấp thủ (ràgavimutti). Tuệ lực ở đây không phải là sức mạnh của trí văn, (ñāna) hay trí «thông minh phán đoán» bằng lý lẽ, để đối thắng với những vấn đề, sinh ra từ vọng tưởng.

 *Ngoài ra, pháp hành hiệu lực nhất của người tu Phật, là nội soi, là chánh định trong niệm thân, nền tảng của Tứ Niệm Xứ. -Tại sao gọi là nền tảng của Tứ Niệm Xứ ? -Vì trên niệm thân,niệm thọ, niệm tâm, và niệm pháp !

*«Nội soi» hay niệm thântrực diện với mọi cảm thọ, vì thân là chỗ chứa thọ cảm, đang «ảnh hưởng lên» tâm. Nói cách khác, là tâm nhận dấu ấn sâu đậm và bị kích thích bỡi mỗi cảm thọ lẫn kinh nghiệm.

*Tâm là «nguồn sáng phân tán», tuy bình thường nó bị vô minh che áng, nhưng nhờ đạt chánh định, tâm được hội tụ, tách rời ngoại cảnh, tăng cường sự sáng, vẹt tan vô minh, nên nó có khả năng nhận ra thực chất của mọi tiến trình kinh nghiệm khổ vui, dễ chịu (Mànàpa) và khó chịu (Amànàpa).

*Một tư tưởng gia đã nói «Sự giác ngộ chính là thấy rõ nguyên nhân thật, của những kết quả chịu đựng vui khổ, đã được trải qua».

*Cảm thọ vui khổ là những «vật liệu» để «chế tạo» kinh nghiệm, phát sinh khôn ngoan, và luyện tâm thành trí tuệ.

 

Quay lại pháp hành, có 3 là :

1-Hành giới  : Sìlabhàvanà,

2-Hành định : Samàdhibhàvanà, và

3-Hành tuệ : Paññabhavanà.

 

*Trong khi gìữ giới, không nên nghĩ là giữ giới, chỉ để cho riêng mình được trong sạch, mà giữ giới để cho cả mình lẫn mọi người (chúng sanh) được trong sạch, không oan trái. Vì giới là một pháp hành tương quan trong biển nghiệp, giữa hành giả và tha nhân, ngoại cảnh.

 

*Nếu giữ giới làm cho tương quan nghiệp đối ngoại (thân và khẩu) bình an, thì hành thiền làm cho tương quan nghiệp nội tâm được soi sáng, thanh tịnh.

 

*Kết quả đúng đắn đầu tiên của người hành thiền, là dẹp được phóng tâm, hay vượt được tầm tứ (vitakka vicàra).

 

*Khoan nói đến đạt thiền cao hơn, đối với hàng tịnh tâm cư sĩ, chỉ dẹp được phóng tâm thôi, cũng là một thành quả vô cùng quí báu. Vì người quen an trụ trong đề mục lành mạnh, không mắc dính với các nghĩ tưởng khác. Người ấy chắc chắn rất tỉnh táo, thanh tịnh, không bấn loạn, trong phút lâm chung. Do đó, khi nhắm mắt họ chắc chắn sẽ không sa đọa.

 

*Tâm an trụ trong sáng trước mọi cảnh danh sắc, chính là diệu dụng của chánh định. cũng chính là khả năng chọc thủng màng vô minh, chứ không phải do học nhiều. Nói cách khác, đó là tuệ quả của chánh định và minh sát.

 

*Khi có chánh định rồi quan sát, thì tất cả các biến hành của tâm, sẽ tự hiện rõ qua thọ cảm, không cần phải tìm kiếm. Nhưng chưa đạt được chánh định, mà quán sát những biến hành ấy, qua cảm thọ, thì chỉ thấy những «cái bóng» của nó mà thôi. Và xóa bỏ «cái bóng» của một đối tượng bất thiện, là một việc làm vô ích bị gạt. Ví như xóa bỏ dấu tích của con rắn độc trên cát chứ không diệt được con rắn độc.

 

 

Đề nghị PHÁP HÀNH :

 

HÃY NIỆM THÂN BẰNG HƠI THỞ !

 

 

-Vì sao ?

 

-Vì thân nầy là «chỗ chứa» tất cả cảm thọ khổ vui, là môi trường căn bản của vạn pháp. Niệm thân là bắt đầu đi vào 37 Phẩm Giác Ngộ, hay Thất Bồ Đề Phần, một hệ thống pháp hành hoàn chỉnh, cô đọng của 84.000 pháp môn trong Phật giáo. Niệm thân thuần thục là tìm ra thực trạng cuộc sống nầy, từ đó thấy pháp giải thoát.  

 

-Thân người ví như biển khổ. Bao nhiêu cảm thọ, tưởng, hành, thức…huân tập trong hợp thể (hay ngũ uẩn) nầy, từ vô số kiếp luân hồi, ví như chiều sâu của nước biển. Tham, sân, si ví như ba loại gió độc thổi mạnh không ngừng, làm cho nổi sóng, chao đảo ngọn đèn tri thức, chẳng phát được ánh sáng minh mẫn, tự soi thẳng vào. Nên niệm thân thuần thục, là phát triển được ánh sáng thanh tịnh, chiếu vào «biển thân» phức tạp, ô trược ấy. Hành giả nhờ đó sẽ phăng ra được chỗ khởi đầu của sinh tử mà hóa giải, thoát khổ !

 

-Hành thiền NIỆM THÂN tuy là một pháp môn luyện tâm, nhưng đó là một pháp môn luyện tâm đi vào bản thân của mỗi cá nhân, nên nó chỉ trừu tượng đối với người khác. Nhưng đối với chính hành giả, khi làm đúng thì nó rất “cụ thể”.

 

*Ngoài ra, niệm thân và hơi thở còn vì những liên quan khác :

 

-Đó là khi lâm chung «hơi thở» sẽ biến thành «gạch nối» giữa các cảnh giới (Uyyojanasankhàra), của chúng sanh khắp ba đường sa đọa (như ngạ-quỉ, a-tu-la, địa-ngục).

 

-Đó là khi lâm chung «hơi thở» cũng chính là pháp hành (Puthujjanasaṅkhàra) đi theo mỗi chúng sanh, suốt các kiếp luân hồi làm động vật thấp (như những giống sống dưới nước, bay trên trời, và di chuyển giữa mặt đất, với loài người).

 

-Đó là khi lâm chung «hơi thở» sẽ biến thành không gian nghiệp (Kàmavacana) đối với tất cả chư thiên trong các cõi dục giới.

 

-Đó là khi lâm chung «hơi thở» sẽ biến thành sắc hữu xứ (Rùpavacana) của tất cả chư thiên trong các cõi sắc gìới.

 

-Đó là khi lâm chung «hơi thở» sẽ biến thành vô sắc hữu xứ (Arùpavacana) của tất cả chư thiên thuộc các vô sắc giới.

 

*Dĩ nhiên, «hơi thở» trong nghĩa đen là sự diễn tả động tác hô hấp của động vật, nhất là loài người. Cây cối thì hấp thụ tự nhiên, chứ không có hành động hô hấp. Nhưng ở đây «hơi thở» được viết trong ngoặc kép, mô tả tính linh động cũa khí đại. Đó là sự «chiêu cảm» (inspiration), một dạng «triết học», mượn từ ngữ chế định (tương đương), để mô tả cái diệu dụng của pháp hành niệm thân (Kàyanupassaṭi hay Ànàpànasaṭi).

 

*Đa số động vật, nhất là loài người, chỉ có hơi thở là «lực đồng hành duy nhất», từ khi ra đời cho đến khi nhắm mắt. Tất cả động vật nói chung, loài người nói riêng, đã bị đặt vào vòng sinh tử. Nếu không có «năng lực tuyệt vời» của hơi thở đưa chúng sanh động vật qua hai cửa luân hồi, thì loài người đã không tồn tại. Do đó, hơi thở cũng là cơ năng làm cho tâm linh tiến hóa. Khi hơi thở điều hòa, sạch sẽ…thì thân thể lành mạnh, tinh thần minh mẫn, sáng suốt. Khi hơi thở loạn động, thì thân thể mệt nhọc tinh thần mờ tối. Đó mà một chứng tích dễ xác nghiệm. Nhưng muốn biết pháp thiền Niệm Hơi Thở (Ànàpànasaṭi) trong nhà Phật, làm thanh tịnh thân tâm diệu dụng như thế nào, thì trước tiên phải thực hành thuần thục sự niệm thân, trong Tứ Niệm Xứ, chứ không thể dùng lời lẽ ước định nói ra một cách xuông pha được !

 

*Người tu Phật luôn luôn «hiểu» rằng : Phút lâm chung, của một người sắp bước qua kiếp khác, mà thức tánh được bình tĩnh, nhận biết hơi thở của mình, thì cái chết của người ấy sẽ yên ổn. Nét mặt của họ sẽ thản nhiên, khi hơi thở cuối cùng hắt ra khỏi khi quản, mà không quay lại.

 

*Xem như thế để thấy rằng :

 

Không ai trong cuộc đời có thể theo giúp chúng ta đến cùng, ngoại trừ hơi thở. Đừng nói đến tiền tài nhiều như núi, danh vọng cao tuyệt đỉnh, bạn bè quyền thế, quyến thuộc giàu sang….ngay cả những kẻ thân nhất bên cạnh một cá nhân, như cha mẹ, con cái, người yêu cũng không giúp được gì, trong lúc cá nhân ấy đang «vật lộn» với tử thần. Chỉ có hơi thở là «đồng minh» trung thành và bền bĩ nhất của họ. «Đồng minh» đó luôn luôn theo sát chúng ta như hình với bóng, nhưng nếu chúng ta coi thường, không ân cần theo dõi, thì không còn «cứu tinh» nào khác. Nói theo cách phàm tục, là con người tuyệt đối cô đơn, trong sự «khởi hành» khỏi kiếp sống nầy !

 

Đây là lý do, Tuệ Lạc đề nghị quí vị một pháp hành thực tiễn :

 

HÃY NIỆM THÂN và HƠI THỞ. -V ì sao ?

 

-Vì kiếp luân hồi nào cũng có 2 “nối tiếp”, là cửa SINH và cửa TỬ, mà mỗi «chúng ta» khó nắm vững, để bình yên bước qua.

 

-Hành thiền niệm thân, rồi niệm thọ qua hô hấp (hơi thở), là 2 công phu đầu tiên đi vào Tứ Niệm Xứ, một thiền pháp vô song của đức Phật để lại. Hành giả khi thuần thục với hơi thở qua niệm thân và niệm thọ rồi, thì thường xuyên tiếp cận, nhìn kỹ được 2 cánh cửa sinh tử ấy, từ đó sẽ biết rõ sống chết như thế nào. Và hành giả cũng gặt hái được hai kết quả thiện, là sống tốt và chết tốt, đối với thân cũng như đối với tâm.

 

-Đó là sự chứng «thân trong thân», hay «thân ngoài thân», trước khi chứng «thọ trong thọ», hay «thọ ngoài thọ», rồi chứng «tâm trong tâm», hay «tâm ngoài tâm», và chứng «pháp trong pháp», hay «pháp ngoài pháp», để “hóa giải” sinh tử.

 

 

(Còn phương pháp niệm thân bằng hơi thở như thế nào, là một đề tài khác. Trong khi chờ đủ thiện duyên gặp chân sư, mời quí vị hãy tạm thời tìm đọc «Cẩm nang thực tiễn chuẩn bị hành thiền Tứ Niệm Xứ» .-Cùng soạn giả).    

 

 

 

          

Mise à jour le Lundi, 06 Juin 2011 07:41  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS