Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home Thuyết trình Mục tiêu của người học Phật

Mục tiêu của người học Phật

Đề tài:

Mục tiêu và Pháp hành

của người học Phật tại gia.

 Cư sĩ Tuệ Lạc trình bày ngày 25 Janvier 2009.

 



 Phần I

 

MỤC TIÊU của người HỌC PHẬT.

 
 

 

*Định nghĩa danh từ quan trọng :

       

«Mục», sự nhìn của mắt, ám chỉ cả mắt thịt lẫn mắt ý thức,

«Tiêu.» là điểm nhắm để đạt đến

«Học Phật»(Sekhà), sự nghiên cứu, thu thập các pháp hướng

thiện, đã được chư Bồ tát ứng dụng viên mãn, để soi sáng hành động tiến hóa, thành Phật.

 

*Gợi ý để thảo luận :

      

1-Theo nhà Phật, «học hỏi» ví như sưu tầm, để thu thập những SOI SÁNG ý thức hướng thiện, và thực hành nghiệm chứng, chứ không phải đơn giản chỉ là sự nghiên cứu, phân tích lý thuyết, đi tìm những cây đuốc lý luận triết học, và các «sáng lập gia», tức là những vị giáo chủ «cầm đuốc».

 

2-Đi vào kinh điển Phật giáo, dẫn chứng và trích dẫn «Phật ngôn» là một điều cần thiết. Nó chứng tỏ nguồn khảo cứu gần với lời dạy của đức Phật nhất. Nhưng trích dẫn mà không soi sáng, không tỏ nghĩa, không được hiểu. Hoặc nghiên cứu chỉ để đọc, tụng «nhập tâm», và xử dụng lòng tin, cấm tín đồ không được thắc mắc, xem thắc mắc, hay nghi ngờ giáo lý là một tội lỗi, thì dẫn chứng ấy là dùng lời xưa để hù dọa, ngu dân, không phải là cách học sáng suốt trong đạo Phật.

 

3-Đương nhiên sự Học Phật sẽ giúp chúng ta «hiểu» được giá trị «cây đuốc giáo lý» và lịch sử đáng noi gương của vị cầm đuốc là đức Phật ! -Với nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

4-Đức Phật ví như bậc cầm cây đuốc không màu, so với các giáo chủ khác, cầm những cây đuốc có màu. Do đó mới có câu nói phổ thông là «Tôn giáo nào cũng khuyên người ta ăn ở hiền lành» (-ám chỉ tôn giáo nào cũng có cây đuốc chỉ đường «phải trái»), nhưng chúng ta chỉ chọn đạo Phật. Vì cây đuốc Phật giáo không màu, không đóng khung, không cố chấp.

 

Tức là đức Phật không áp đặt quyền lực trên con người, Ngài không thưởng phạt ai cả !

5-Nếu pháp học làm cho người ta hiểu, thì pháp hành (thực nghiệm) làm cho người ta biết. Như vậy, trong khi Học Phật, cần phân biệt hai chữ «HIỂU» (dựa theo «hợp lý» (logique) hay không «hợp lý» (illogique), và «BIẾT» (dựa theo xác chứng sự thật). Và khi đi vào sự thật, thì «hợp lý» nhiều khi không nghiệm đúng, không xác thật !

                      

6-Từ đó suy ra, hiểu chưa chắc đã biết, nhưng khi xác nghiệm biết rồi, thì sự hiểu ấy sẽ rất tường tận.

   

7-Đạo Phật là đạo giác ngộ, tức đạo lấy sự biết thông suốt làm cứu cánh. Và sự biết thông suốt ấy là kết quả của nhiều công phu thực hành, chứ không phải là kết quả của lý thuyết qui nạp, do «hiểu vấn đề» qua biện luận (logique).

                      

8-Đạo Phật cũng là đạo của trí tuệ thực dụng, tức là khả năng soi sáng cũng là khả năng thực dụng. Như trường hợp người lênh đênh trên biển khơi, có trí tuệ biết tìm kiếm và nhìn sao Bắc Đẩu, là để định hướng vào bờ, chứ không phải để đến chỗ có ngôi sao Bắc Đẩu.

  

9-Trong khi học và hành lời Phật dạy, hãy can đảm lập lại những pháp hành căn bản, giản dị, thông thường hằng ngày. Vì những đề tài căn bản, giản dị, thông thường ấy, chính là những đề tài chúng ta thường coi nhẹ, và ít biết rõ. Thuần thục những pháp hành đó là nắm vững thực tại, mà nắm vững thực tại là tìm ra lối đi tới.

 

10-Tương tự như người hành thiền, lúc nào cũng dùng một đề mục, nếu họ mau nhàm chán, không thuần thục với một đối tượng bình thưòng, thì đó là sự dừng bước. Rồi tật nhàm chán sẽ làm tâm phát sinh vọng động, tìm kiếm một cái gì khác mau thu hoạch hơn, thì đó là sự thụt lùi, bỏ phí công phu và thời gian đã qua, để khởi lại từ đầu.

 

*Nhắc lại kinh điển :

                

Trước khi Phật nhập Niết Bàn, Ngài A-Nan đã hỏi Phật đại ý «Sau khi Thế Tôn tịch diệt rồi, thì chúng đệ tử sẽ xem ai là thầy ?». Phật trả lời «Hãy lấy kinh luật làm thầy».

 

*Như vậy, kinh luật Phật giáo có thể xem là thầy, là cây đuốc do đức Thế Tôn lưu lại. Và Học Phật một cách đúng đắn, sẽ giúp chúng ta kiên nhẫn, sáng suốt, định hướng đúng pháp hành trong thảnh thơi, tự tại, thanh tịnh và cởi mở. Từ đó hành giả sẽ có đủ khả năng, để nhìn thấy vị thầy trong cây đuốc Pháp Bảo ấy.

 

*Câu Phật ngôn trên đây cũng gián tiếp khuyên chúng ta rằng «Không nên học Phật bằng cách nhắm mắt hiến thân làm môn đệ một trường phái, rồi trung thành với ông thầy, để ông ấy đưa mình đến chỗ tiến hóa, giải thoát» !

 

*Theo thế gian thì một ông thầy giỏi, nhiều kinh nghiệm sẽ giúp học trò thành công. Nhưng trong Phật pháp, cần tự thân giác ngộ, ông thầy «giỏi» không phải là quyền lực duy nhất để cứu độ, mà chính là pháp hành, do mỗi cá nhân định hướng đúng, là tất yếu.

 

*Định hướng «đúng» ở đây là trung đạo,không chấp, là Như Lai Pháp, chứ không phải có một tiêu chuẩn cứng ngắc, để làm định hướng chung. Vì căn cơ của mỗi chúng sanh mỗi dị biệt. Nói khác đi, là định hướng trung đạo «đúng như vậy đó» (đúng như những gì đang diễn ra trong giây phút hiện tại), chứ không phải «đúng», đối nghịch với những gì bất đồng là «sai». –Vì sao ? –Vì sự vô thường và pháp biến hóa (tiến hoặc thoái), sẽ làm cho mọi hiện tượng danh sắc thay đổi không ngừng. Cái ấy ngày hôm nay chắc chắn sẽ khác với cái ấy ngày mai và sau nầy !

 

*Cần biết thêm rằng : Giáo pháp nguyên thủy do đức Phật để lại, tuy mới nghe qua, có vẻ là lý thuyết, nhưng xét cho cùng, thì đó chính là ngôn ngữ dựa trên thực nghiệm, hay căn cứ trên chứng đắc của Phật, do Ngài đã trải qua bao kiếp tu trì, thực hành Ba La Mật, trước khi được viên mãn, tổng hợp.

 

*Giáo pháp ấy không phải là một loại triết lý nhân sinh, được thiết lập thuần túy bởi tư duy xuất sắc của một con người. Giáo pháp đó trong chiều sâu, cũng có thể xem là một khoa học thực nghiệm tâm vật hoàn chỉnh nhất, cho những chúng sinh muốn tiến hóa, thoát khỏi sa đọa.

 

*Và vì giáo pháp ấy có hiệu lực giúp hành giả vượt sa đọa, nên nó không thể nào không «tương ưng» một cách đối trị với pháp sa đọa trong thế gian. Vì như chúng ta thường nghe nói «Phật pháp bất ly thế gian pháp».

 

*Khi nghiên cứu Vi Diệu Pháp trong hệ Phật Giáo Nam Truyền, chúng ta thấy có câu Phạn ngữ Yoniso manasikàra, tạm dịch «như lý tác ý». Câu nầy áp dụng vào biệt nghiệp và cộng nghiệp thế gian, là một pháp «chu đáo».

 

*Còn một châm ngôn khác trong sách Phật, cũng «chu đáo» không kém. Đó là :

 

Tùy duyên nhưng BẤT BIẾN = BẤT BIẾN mà tùy duyên !

 

Thích nghĩa :

 

-Tùy duyên (Anukùlatta=mềm dẽo, khéo tùy tiện) hay hài hòa (Itaravidhi=thích ứng),

còn BẤT BIẾN (Adassitanirodha) là không thay đổi.

 

*Mặt khác, cái HIỂU trong ngôn ngữ thế gian vốn nằm trong khung nhị-biên, thường như con dao hai lưỡi, hễ đúng bên nầy thì sai bên kia, phải tùy duyên (hay tùy hoàn cảnh) mà lý giải, mới HIỂU được, mới khai thông được. Nếu không «tùy duyên hay tùy hoàn cảnh» mà lý giải, thì nó sẽ bế tắc, mâu thuẫn, sự HIỂU do đó không đứng vững !

 

*Ngược lại, cái BIẾT (hay giác ngộ, chứng đắc sự thật trong nhà Phật) thì không có duyên (hay hoàn cảnh) nào làm cho nó méo mó, sai lệch cả, nên nó BẤT BIẾN, không thay đổi.

 

Liên quan đến «tam độc» tham (lobha), sân (dosa), và si (moha), ba gốc chính (timùlàni) của 12 tâm bất thiện (12 akusalacittadhammà), chúng ta nhận thấy : Hiểu về tham khác với biết về tham, hiểu về sân khác với biết về sân, và hiểu về si khác với biết về si.

 

Hãy cùng nhau nêu ví dụ để soi sáng hai mặt «HIỂU» và BIẾT về tham, về sân, và về si này.

 

Trường hợp khác : Chúng ta hiểu gì về hai cụm từ «tùy duyên», và «bất biến» trong vấn đề gìn giữ ngũ giới. Năm giới ấy mới nghe qua có vẻ đơn giản, tầm thường, nhưng đối với hàng cư sĩ, khi cố gắng giữ nó, khó tránh khỏi một số mâu thuẫn, hay bế tắc trong cái hiểu lẫn cái biết. Hễ nó hợp lẽ với bên nầy (đạo), thì nó nghịch lý với bên kia (đời hay thế gian), và ngược lại.

Thử nêu một số trường hợp liên quan đến sự giữ ngũ giới để cùng nhau suy gẫm :

1/Không sát sinh : Luật cư sĩ nhà Phật ghi rằng, giới sát sinh có 5 chi. Khi hội đủ 5 chi thì phạm tội sát sinh. Còn khi chưa hội đủ 5 chi, thì giới sát sinh bị bất tịnh. Nhưng lý do hay hoàn cảnh nào (cộng nghiệp), làm duyên cho sự sát sinh, thì không thấy nằm trong 5 chi nầy, chỉ thấy nêu rằng : Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu là vì…..«lòng tham».

 

Trên thực tế, lý do hay «cảnh duyên», cũng rất quan trọng. Có những trường hợp người ta phải giết chết một mãnh thú, triệt tiêu một ác nhân, hay thanh toán một đoàn quân xâm lăng, để tự vệ, quốc phòng, cứu vớt các đồng bào khác, giữ độc lập và bình an cho đất nước. Qui ước chung của tất cả quốc gia đều như thế, cho rằng «làm ngơ trước những bổn phận xã hội, công dân là gián tiếp đồng lõa với kẻ ác». Nghĩa là cái «đúng» trong đạo Phật nhiều khi bị coi là cái «sai», đối với qui ước thế gian. Đây là một «mâu thuẫn» đạo và đời, mà hàng Phật tử khó tránh khỏi. Trong lịch sử VN, dưới các thời Phật giáo hưng thịnh, đã có những «tăng sĩ» cởi áo tu, đi dẹp giặc.

 

2/Không trộm cắp : Giới thứ hai nầy cũng vậy, nó cũng có 5 chi, và luật cư sĩ nhà Phật cũng ấn định trường hợp nào vi phạm, hay trường hợp nào bị bất tịnh, như giới thứ nhất. Nhưng có những hoàn cảnh từng xảy ra, trong một xã hội bất công, áp bức, bóc lột. Đa số dân nghèo, hay dân lao động chính là tầng lớp sản xuất toàn bộ vật dụng cho một nền kinh tế. Nhưng đặc quyền hưởng thụ và xử dụng sự sung túc của nền kinh tế ấy, lại nằm trong tay một thiểu số trọc phú, quan chức tham nhũng, hay đảng phái cầm quyền mục nát, thì những nhân vật được dân chúng bình dân tôn vinh như anh hùng dân tộc, đã là những «đại đạo tặc» ? Họ đã sống «ngoài vòng pháp luật», và tổ chức cướp của kẻ giàu, đem phân phối cho dân nghèo. Đối với đa số đồng bào, họ làm như thế là đúng. Nhưng đối với nhà nước ngược đãi dân lành, thì họ là những «tội nhân».

 

3/Không tà dâm : Giới tà dâm cũng có 4 chi, và luật cư sĩ đạo Phật cũng khuyên nên tuyệt đối giữ đúng, theo các điều kiện như trên. Đây dĩ nhiên là tiết hạnh của của một con người. Bất luận nam hay nữ, khi đã hợp duyên yêu thương ai thì phải chung thủy với người đó. Giới nầy không «kẹt» trong xung đột quyền lợi xã hội, như 2 giới trước.

 

Nhưng có những hoàn cảnh ngang trái, một số thanh niên nam nữ bị ép hôn, vì nhiều lý do khác nhau. Các cô cậu hoàn toàn không tán thành, hay chẳng cảm tình gì với người chồng (hay vợ) sắp cưới cả. Họ tận lực chống lại nhưng thua cuộc. Nhiều khi người ta còn xem họ như một «vật được định giá». Họ bắt buộc phải kết hôn, để cứu vãn cảnh nghèo, để trừ nợ cho cha mẹ, hay để giải oan cho người thân bị tù tội. Và chỉ vì họ không đủ can đãm tìm cái chết, nên phải cắn răng «hy sinh», sống bất đắc dĩ với một người áp chế, rồi thành thói quen. Sự chung đụng cưỡng bức, độc ác, đầy «hợp pháp» nầy phải chăng cũng là tội «tà dâm»(?), nhất là tội tà dâm ấy thuộc về kẻ «thắng cuộc» trong hôn nhân, chứ không phải về phía người bất hạnh. Chúng ta chẳng thấy «kinh sách» nào vạch rõ cả ! Đây chính là một sự mâu thuẫn trầm trọng, giữa đạo lý do thiểu số đặt ra và phẩm giá đích thật của con người ?

 

4/Không nói dối : Giới nói dối cũng có 4 chi, khi hội đủ thì phạm tội, và khi chưa hội đủ thì bị bất tịnh, giống ba giới trước. Nhưng trong chiều sâu, giới cấm nầy rất tế nhị, vì ngôn ngữ vốn là con dao hai lưỡi, bên nào cũng sắc bén, «hợp lẽ» cả. Nhất là trong những trường hợp tối quan trọng, hễ nói thật thì có kẻ phải chết, mà nói láo thì một người được sống. Kinh sách thuật rằng : Ngày xưa, có một sa môn thấy một tử tội chạy ngang. Sau đó, các quan quân trọn quyền hành quyết tử tội đào tẩu, kéo đến tra hỏi nhà tu hành, xem ông thấy tội nhân trốn về hướng nào để hành quyết. Chúng tôi chỉ thuật đến đây thôi, phần sau nhường lại qúi độc giả, suy gẫm xem nhà tu kia nên nói thật hay nói khác đi, để cứu mạng một người ?!

 

Giữa tòa án cũng vậy. Hai luật sư của đôi bên tranh tụng, đều phải «cứu» thân chủ của mình. Tác dụng âm thanh biện bác của 3 tấc lưỡi như thế nào, quí vị đều đã biết. Chúng tôi chỉ gợi ý thôi, không cần nêu chi tiết, hay thí dụ dài dòng. Sự nói thật hay láo trong một số trường hợp rất phức tạp, tế nhị !

 

5/Không dùng chất say (hay không uống rượu) : Giới nầy cũng có 4 chi, và điều kiện vi phạm, hay bị bất tịnh, cũng giống như 4 giới trước. Đây là một giới cấm hiển nhiên rất lành mạnh. Ai mà không nhìn nhận rằng, uống rượu là một tật xấu, có hại cho cả thân thể lẫn tinh thần. Tuyệt đối không uống rượu chẳng những rất tốt cho cá nhân, mà còn rất tốt cho gia đình, xã hội. Nhưng đáng tiếc, trên thế giới ngày nay, rượu là một sản phẩm kinh tế «quan trọng», nhất là tại các nước tân tiến Âu Mỹ, nhiều đồn điền nho. Tổng thống còn uống làm sao cấm dân ?

 

Chẳng những thế, chúng tôi thiết nghĩ giới thứ năm nầy (chất say), không phải chỉ gồm có rượu, mà có thể gồm những thứ khác, như thuốc phiện, cần sa, thuốc lá, cờ bạc…v.v….Nghĩa là những thứ làm cho con người say sưa, nghiện ngập. Vì khi một người say rượu, đầu óc mất sáng suốt, có thể làm bất cứ điều gì xấu, thì khi nghiện nặng những thứ kia, người ta cũng hành động tương tự.

 

Do đó, khi diễn dịch Phật giáo, không nên làm cho người ta nghĩ rằng «Giữ ngũ giới, chỉ cần không uống rượu, nhưng cần sa, nha phiến, thuốc lá và đánh bài thì chẳng sao».

 

(Muốn biết các chi của ngũ giới, mời xem cuốn kinh «Nhật Hành» của cư sĩ, do Cố Hoà Thượng Hộ Tông soạn).

 

Chúng tôi gợi ra đây một số «khó khăn» hay «mâu thuẫn» của hàng tại gia, trong việc gìn giữ ngũ giới đạo Phật, không phải là tìm lý do canh cải những gì ghi trong kinh sách, mà chỉ để đặt người cư sĩ Phật tử, trước thực tại, và cùng nhau suy gẫm, hầu tùy nghi thích ứng, nhận ra hướng đi trung đạo, mà không vướng vào tư duy cho rằng «ta làm bổn phận ở đời, thì phải vi phạm luật đạo». Trái lại trên trung đạo, chúng ta vẫn có thể khế lý khế cơ dung hợp, để quang minh chính đại, sống tròn đạo đức giữa cuộc đời.

 

*Mặt khác, chúng ta cũng không nên lạm dụng luật nhân quả (biệt nghiệp và cộng nghiệp), để diễn giải lệch lạc các hiện tượng, theo ngụy biện thế gian, làm hoang mang Pháp Phật, trong dụng ý chạy tội, lung lạc tinh thần gìn giữ ngũ giới. Chẳng hạng như không nên lý luận rằng «Anh A giết anh B, không phải vì anh A cố ý, mà vì anh B kiếp trước đã giết anh A, nên luật nhân quả kiếp nầy nó hiện ra như thế».(?)

 

Khi không bóp méo luật nhân quả, tức là có «như lý tác ý» (Yoniso manasikàra), áp dụng trung đạo vậy.

 

*Tóm lại, đạo Phật được lưu truyền cho đến ngày nay là nhờ sự nhập thế chu đáo, và đầy trách nhiệm của các thế hệ tiền nhân, biết «tùy duyên nhưng BẤT BIẾN», hay «tùy duyên nhưng không canh cải» ý nghĩa lời Phật dạy !

 

Mise à jour le Lundi, 06 Juin 2011 07:36  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS