Tuệ Lạc

  • Augmenter la taille
  • Taille par défaut
  • Diminuer la taille
Home Thuyết trình TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

(Catu Brahmavihàracitta)


(Cư sĩ Tuệ Lạc sưu tầm, dựa theo kinh điển Nam truyền (Pàlì),

và  thuyết trình tại giảng đường Học Viện Linh Sơn, Vitry, ngày 5/12/2010)

 

Dàn bài :

 

I- Nguyên do và định nghĩa.

 

-Nguyên do : Đó là phẩm tính tỏa ra từ tâm (citta) của bậc «Đại Phạm Hạnh» (Mahà brahmana). Mà bậc Đại Phạm Hạnh cũng là hiện thân của đức độ thanh cao, hay «tịnh viện» (Vihàra). Đặc tính của đức độ nầy là vô lượng (Appamàna), nên được tượng trưng bằng 4 mặt (cho cả 2 chiều, đứng và ngang), tức “tứ diện vô lượng”, gọi là TỨ VÔ LƯỢNG TÂM.

 

-Định nghĩa tổng quát : Tứ Vô Lượng Tâm là 4 tâm vô lượng, 4 tâm không đo lường được, 4 tâm không lằn mức, 4 tâm không biên giới, 4 tâm vượt phân biệt trong ngoài, vượt phân biệt trên dưới, 4 tâm thường xuyên thanh tịnh và bình đẳng.

 

II- Bốn tâm đó là :

TỪ (Mettà), BI (Karunà), Hỷ (Mudità), và XẢ (Upekkhà).

 

Truy nguyên điển ngữ :

1/METTÀ (=TỪ) do căn ngữ chữ Phạn (hay chữ Phạm) “Mitra” tức là thân thiện, lúc nào cũng xem đối tượng như đồng hành với mình. (Căn “mitra” biến thành 1 dạng khác “Mitta”, dịch là bạn). Vì đức tính thân thiện, xem như bạn đồng hành ấy, nên lúc nào cũng muốn cho đối tượng được an vui. Nên TỪ có nghĩa là BAN VUI.

 

2/KARUÀ (=BI) do căn ngữ chữ Phạn “KR”, tức là chăm sóc, trắc ẩn. Khi thấy đối tượng gặp khó khăn, khổ sở, thì tội nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ. Vì đức tính ấy, nên BI có nghĩa CỨU KHỔ.

 

3/MUDITÀ (=HỶ) do căn ngữ chữ Phạn «Mudu» hay «MUD», có nghĩa là vui với cái vui của người khác. Vì đức tính ấy nên bậc phạm hạnh không bao giờ biết đố kỵ, so bì, khi thấy kẻ khác an lạc hơn mình, Nên HỶ có nghĩa BAO DUNG.

 

4/UPEKKHÀ (XẢ) do căn ngữ 2 chữ Phạn hợp lại «UPA+IKS», tức là vượt lên trên mọi trạng thái, mọi thực tại khác nhau, không lằn mức, không phân biệt thân sơ, cao hạ, hay vô câu chấp. Vì đức tính cao thượng ấy, nên bậc Phạm Hạnh dù biết đối tượng thiệc ác, tội phước bất đồng, nhưng Ngài vẫn TỊNH XẢ, đối xử bình đẳng không thiên vị, không ghét bỏ.

 

III- Hạng nào có TỨ VÔ LƯỢNG TÂM ?

 

-Chỉ có bậc chân phạm hạnh là Thánh Nhân đã thoát khỏi tham sân si, mới có Tứ Vô Lượng Tâm thực sự và đầy đủ. Thánh nhân ở đây tiêu biểu như Đức Phật chẳng hạng. (*)

 

Xin mô tả phẩm cách VÔ LƯỢNG ấy, tượng trưng như sau :

 

-Giả sử có 2 người : Một người buổi sáng phỉ báng Phật, buổi trưa phỉ báng Phật, buổi chiều phỉ báng Phật. Còn người kia buổi sáng tán dương Phật, buổi trưa tán dương Phật, buổi chiều tán dương Phật. Khi 2 người gặp nạn, cùng ở trong 1 hoàn cảnh bất hạnh, thì Đức Phật sẽ đối xử với cả 2 như nhau, tức là Ngài đối xử với đầy đủ TỪ (ban vui), BI (cứu khổ), HỶ (bao dung), và XẢ (bình đẳng, không phân biệt).

 

IV- Còn phàm nhân thì sao ?

 

-Phàm nhân nếu phát đại nguyện tu hành, noi gương Phật có thể thực hiện 4 tâm nầy. Nhưng không thể gọi đó là «TỨ VÔ LƯỢNG TÂM», mà gọi là «4 tâm đại hạnh» (Mahaggatacitta) hay «4 tâm tịnh hảo» (Sobhanacitta). Thầy Minh Châu còn dịch là «4 tịnh quang tâm». Tức là 4 tâm đại thiện (Mahàkusalacitta).

 

Vì sao không gọi là vô lượng ?

-Vì khi chưa dứt tuyệt tham sân si, và chấp ta, thì phàm nhân dù có công phu tu hành, cố gắng thực hiện 4 hạnh từ, bi, hỷ, xả ấy đi nữa, họ vẫn còn sự phân biệt vi tế rất sâu trong tâm thức.

 

-Ngoài ra, Kinh sách cũng nói : Trong phàm nhân, thì cha mẹ là hạng người có thể có «tứ vô lượng tâm» đối với con cái. Vì vậy, nếu con cái bất hiếu, làm tổn hại đến sinh mạng của cha mẹ, thì phạm tội rất lớn (đại tội).

 

V- Đề nghị vài nguồn suy nghĩ

làm phát khởi tâm đại hạnh nơi phàm nhân.

 

a/Nếu ai có đức tin vào sự tái sinh, thì hãy suy nghĩ về vòng luân hồi. Vì tư duy đó sẽ giúp chúng ta có thể thấy rằng «trong vô số kiếp luân hồi, hầu hết chúng sinh chắc chắn đã là thân nhân ruột thịt của nhau». Do đó chúng ta cần có tâm đại hạnh từ bi hỷ xả, đối với chúng sinh, như với thân thuộc của mình.

 

b/Nếu ai chưa có đức tin vào sự tái sinh luân hồi, thì hãy suy nghĩ về liên đới hiện tại (Phật giáo gọi là cộng nghiệp). Nghĩa là trên đời, không ai có thể hoàn toàn độc lập, không nương vào người khác hay xã hội. Sự bình an của một cá nhân, vốn gián tiếp hay trực tiếp, là sự bình an của tất cả. Con đường dưới chân chúng ta đi, là kết quả của toàn dân đóng góp, trong đó có chúng ta. Nếu ta ít phước, quá nghèo, thất nghiệp, không đóng thuế được, thì sự sống lành mạnh của ta vẫn là một viên gạch, góp phần vào guồng máy tiêu thụ các sản xuất, mà muôn vạn yếu tố nhỏ hợp lại, mới chuyển vận tốt nền kinh tế, làm điều hòa xã hội. Vì kinh tế là nguồn gốc của tất cả phát triển tiện nghi trong đời sống. Suy ra các phương diện khác (chính trị, văn hóa, giáo dục, an ninh) đều cũng như  thế !

 

VI- Ứng dụng vào thực tế.

 

-Khi bốn tâm đại hạnh từ bi hỷ xả được sinh khởi,

thì ứng dụng vào các trường hợp sau :

 

-Thứ nhất, ứng dụng để biết chia xẻ lợi lộc của mình đến người khác. (tức là Bố thí, hay làm việc thiện).

-Thứ hai, ứng dụng để giữ gìn 5 giới của người tu tại gia (theo nhà Phật). Nhờ khởi 4 tâm từ bi hỷ xả, mà ta không hiếu sát, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không say sưa (uống rượu). (Trì giới).

-Thứ ba, ứng dụng khi giữ được 5 giới thì tư cách của hành giả trở nên hiền từ, thân thiện, nghiêm túc, có tinh thần tự tin, cử chỉ bình tĩnh, rồi từ đó họ hướng tâm thức vào thiền pháp, an trụ và phát triển xa hơn 4 hạnh từ bi hỷ xả. (Đó là tham thiền).

 

*Trong một xã hội mà có nhiều người thực hành «tứ đại hạnh tâm» (TỪ, BI, HỶ, XẢ), thì xã hội ấy đang có gương tốt, và bớt đi rất nhiều xung đột. Tuổi trẻ nhờ đó được hướng dẫn để có tâm thức bình tĩnh, ít bồng bột, ôn hòa, thân thiện, bao dung, và biết tương trợ trong kỷ luật. Tuổi trẻ ấy tự nhiên sẽ sáng tạo, thông minh lẫn đầy đủ tích cực. Xã hội ngày mai sẽ tốt đẹp hơn.

 

VII- Đó là nguồn gốc của lạc quan chân thật.

 

Bốn tâm đại hạnh TỪ BI HỶ XẢ,

chính là nguồn gốc của sự lạc quan chân thật.

 

*Giáo lý do đức Phật để lại, thường bị hiểu lầm là giáo lý «bi quan». Nhưng trong chiều sâu, giáo lý ấy hằng làm cho con người «lạc quan». Lạc quan ở đây không phải là lạc quan vị kỷ, lý thuyết, mà lạc quan vị tha, thực hành. Lạc quan qua phạm hạnh, để có động cơ đối xử một cách xứng đáng, trước mọi đối tượng trong cuộc đời. Lạc quan ấy có khả năng hóa giải tất cả những vui khổ, thuận nghịch, chắc chắn sẽ xen kẽ xảy ra.

 

Còn ý nghĩa của «lạc quan theo thường tình», chỉ qui vào sự «tạm có» đối với cá nhân, để hưởng thụ một thời gian, tránh nhìn vào tính ngắn hạn, phù du (tạm không), vốn chỉ là sự lạc quan, hay thỏa mãn, gieo mầm cho bi quan sau đó. Nghĩa là cái vui khi chấm dứt, thì cái buồn tự đến. Rồi sự chịu đựng, khao khát tiếp theo, bao giờ cũng sẽ mạnh hơn trước rất nhiều.

 

Nói cách khác, người Phật tử không cực đoan, phủ nhận mọi niềm vui trước mặt. Họ cũng không tiêu cực, chạy trốn những cái khổ của nghiệp tự nhiên phải đến. Họ không đánh lạc hướng, hay không ngụy trang chúng, để tự an ủi, tự gạt mình, mà họ tinh tấn không mắc dính vào các «vui lẫn buồn» vốn vô thường (ngắn hạn) ấy. Khi «cái vui» chấm dứt, thì họ thản nhiên cho qua, và tỉnh thức, không ngại đối diện với thực tại dù chẳng thích hợp, bằng sự duy trì bốn tâm từ bi hỷ xả !

 

*Về ý nghĩa sâu sắc, liên quan đến TỪ BI HỶ XẢ,

chúng ta thấy trong kinh Pháp Cú nói :  

 

Không làm mọi điều ác. (Tức là TỪ)
Làm tất cả điều lành. (Tức là BI)
Giữ tâm trong sạch. (Tức là HỶ và  XẢ)
Ấy là lời Phật dạy !
 
Còn theo hán Văn thì :
Chư ác mạc tác. (Tức là TỪ)
Chúng thiện phụng hành. (Tức là BI)
Tự tịnh kỳ ý. (Tức HỶ và XẢ)
Thị chư Phật giáo !

 

Xin lược giải :

 

-Không làm mọi nghiệp ác bằng thân, khẩu và ý, tức là 
*BAN VUI CHO CHÚNG SANH
lẫn BAN VUI CHO MÌNH, hay TỪ (METTÀ)
 
-Làm các nghiệp lành, không tạo oan trái, tức là
*CỨU KHỔ CHO MÌNH, và CỨU KHỔ CHÚNG SANH, hay BI (KARUNÀ).
 
-Hành thiền, chánh niệm và tỉnh thức, tức là nuôi dưỡng
*NGUỒN VUI TƯƠI CHO MÌNH và
CHO CHÚNG SANH, hay HỶ (MUDITÀ).
 
Bình đẳng (Vô ngã chấp) tức là    
*TỰ TẠI ĐỐI VỚI MÌNH và CHÂN HÒA ĐỐI VỚI
TẤT CẢ CHÚNG SANH, hay XẢ (UPEKKHÀ).

 

 

(*)Thuở sinh tiền, đức Phật nhờ tứ vô lượng tâm, mà hằng ngày Ngài sống trong «an lạc giải thoát». Ngài luôn luôn có đôi mắt tỏa sáng nét từ bi, và nụ cười đầy hỷ xả trên môi, như các “hình tượng” mà chúng ta thấy ngày nay, dù cho các hình hay tượng ấy được hội họa, điêu khắc, hoặc nắn đúc, theo khuynh hướng nghệ thuật riêng, của bất cứ quốc gia nào,

 

(Dứt thuyết trình)

 



(Pháp thoại ngắn, Cư sĩ Tuệ Lạc (NĐ) kính tặng chư đạo hữu).

  Small glossary in english 

The four incommensurable characters of Buddha :

 

METTÀ : Friendly, benevolent, kind, helpful interest in others, full of
                universal love.
 
KARUNÀ : Pitiful, ever ready to help, saviourful, compassion.
 
MUDITÀ : Kindness, soft hearted, sympathetic and appreciative,
                 congratulatory and benevolent attitude.
 
UPEKKHÀ : Equanimity, hedonic neutrality, zero point between joy
                  and sorrow, neither pain nor pleasure.

-------------

 

Petit glossaire en francais

Les 4 caractères (ou vertues) incommensurables du BUDDHA :

 

METTÀ : Amitié, benevolence, prêt à rendre services à tous êtres
                vivants sans arrières pensées (sans distinction).
 
KARUNÀ : Compassion, plein de pitié, toujours en sauveur.
 
MUDITÀ : Générosité, sympathique et appréciatif vers les bonheurs
                 des autres, congratulative et benevolente attitude.
 
UPEKKHÀ : Équanimité, impartial, équitable, juste.

------------

 

Bảng ngữ lục ngắn tiếng Việt

Tứ vô lượng tâm của Phật :

 

METTÀ : Từ vô lượng

KARUNÀ : BI vô lượng

MUDITÀ : Hỷ vô lượng

UPEKKHÀ : Xả vô lượng.

---------

 

(Tuệ Lạc tra cứu)  

Mise à jour le Vendredi, 27 Mai 2011 15:32  

.

phap-luan-01-120.jpg

TEXTE EN FRANCAIS